Báo cáo định giá Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt

Thông tin về ngành Ngân hàng

1.1 Tổng quan ngành Ngân hàng

Năm 2016, ngành Ngân hàng cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu kế hoạch như:

  • Kiểm soát lạm phát dưới 5%,
  • Nâng cao vị thế đồng Việt Nam
  • Giảm tình trạng Đô-la hoá, vàng hoá,
  • Đẩy mạnh xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường,
  • Giữ tỷ lệ an toàn vốn ở mức hợp lý (13%),
  • Đáp ứng đầy đủ các tỷ lệ về khả năng chi trả và tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn theo quy định của pháp luật;
  • Giữ lãi suất cho vay trung dài hạn dưới 10% và nợ xấu còn dưới 3%…

Tăng trưởng tín dụng năm 2016 được duy trì quanh mức 16-17%, đây là mức tăng hợp lý, dù không cán đích mục tiêu 18% – 20%. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 6 tháng đầu năm 2017, tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm đạt 7.54% trên dự báo tăng trưởng cả năm là 16%. Trong đó, tổng phương tiện thanh toán tăng 5.69% so với cuối năm 2016, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5.89%.

Dù NHNN tiếp tục duy trì định hướng lãi suất thấp, mặt bằng lãi suất sẽ chịu áp lực tăng, đến từ:

  • Lạm phát được kỳ vọng tăng dần khi hàng hoá, nguyên liệu cơ bản đã tạo đáy và đi lên từ năm 2016;
  • Nhu cầu tăng lãi suất huy động để đảm bảo chỉ tiêu an toàn theo sau thông tư 06 của các Ngân hàng.

Theo Chúng tôi, chênh lệnh giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động tại các ngân hàng đã giảm mạnh trong nhiều năm trở lại đây nếu đem so sánh với các nước trong khu vực. Điều này dẫn đến hiện tượng co hẹp biên lợi nhuận, và ảnh hưởng tiêu cực đến động lực giảm lãi suất cho vay của chính chính các ngân hàng.

Kể từ năm 2016, Chính phủ đã ban hành chính sách, ưu tiên một số ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh.

Cụ thể, NHNN đã đưa ra gói tín dụng ưu đãi 30,000 tỷ đồng tiền hỗ trợ mua nhà ở xã hội (NOXH). Sau khi gói 30,000 tỷ đồng kết thúc (30/6/2016), Chính phủ tiếp tục hỗ trợ phát triển NOXH thông qua gói vay ưu đãi dự kiến đạt 1,000 tỷ (năm 2017), từ 2 nguồn vốn vay.

Nguồn vốn vay thứ nhất được giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện bằng việc sử dụng nguồn vốn 50% từ ngân sách và 50% từ nguồn huy động để cho vay mua nhà ở xã hội với mức tối suất tối đa là 5%.

Nguồn vốn vay thứ 2 thuộc về các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm cổ phần chi phối. Theo đó, các ngân hàng này phải dành 3% tổng dư nợ của mình để cho vay mua bán nhà ở xã hội với một số điều kiện ưu đãi.

Tuy nhiên, hiện nay cơ chế chính sách vẫn còn nằm trên giấy tờ vì khả năng thực thi không cao. Nguyên do bởi việc tạo lập một quỹ cho vay nhà ở xã hội đối với các ngân hàng thương mại là kém khả thi vì rất nhiều trong số này còn đang gặp khó khăn, cùng lúc vẫn phải phân bổ nguồn vốn đến các chương trình khác như nông nghiệp, phát triển kinh tế biển, hướng nghiệp, hỗ trợ sinh viên…

Trên định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, NHNN dự kiến ban hành cơ chế thuận lợi về gói tín dụng trị giá 50,000 – 60,000 tỷ đồng, được bố trí tại ít nhất 5 ngân hàng (hồi tháng 12/2016), nhưng đã thực hiện gói tín dụng lên đến 10,000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn 0.5% – 1.5% so với lãi suất cho vay thông thường (tháng 4/2017). Tính đến thời điểm hiện tại, dư nợ cho vay đã đạt 32,339 tỷ đồng, tương đương 1.4 tỷ USD. Chi tiết hơn, khoản vay phục vụ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt 27,737 tỷ đồng, còn vốn vay nông nghiệp sạch đạt 4,602 tỷ đồng. Tổng cộng đã có 4,125 khách hàng tiếp cận bao gồm 3,956 khách hàng cá nhân và 168 khách hàng doanh nghiệp.

Đến với vấn đề xử lý nợ xấu, sau quá trình đẩy mạnh hoạt động mua bán nợ cho VAMC năm 2015, nợ xấu báo cáo tại các ngân hàng trong năm 2016 cơ bản đã về dưới 3%. Tuy nhiên, nợ tiềm tàng chưa được phân loại đúng và còn ở mức cao. Nửa đầu năm 2017, một số chính sách đã được ban hành để đẩy nhanh quá trình xử lý nợ nhưng hiệu quả đạt được vẫn còn ở mức khiêm tốn, biện pháp xử lý nợ xấu chính vẫn là trích lập dự phòng (bên cạnh việc VAMC thu hồi nợ, hay Tổ chức tín dụng tự xự lý).

1.2 Cạnh tranh trong ngành Ngân hàng

Xét về tương quan chung thì trong năm 2016, vị thế của nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước so với nhóm các NHTM Cổ phần không chênh nhau quá nhiều.

Tổng tài sản của nhóm NHTM Nhà nước (bao gồm Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV, CBBank, GP.Bank và OceanBank) ở mức khoảng 3,700 nghìn tỷ đồng, nhỉnh hơn khoảng 500 nghìn tỷ đồng so với con số 3,200 nghìn tỷ đồng của nhóm các NHNM Cổ phần (VPBank, MBBank, LienVietPostBank…).

Tuy nhiên, nhóm NHTM Cổ phần lại đang ghi nhận mức vốn tự có khoảng 250 nghìn tỷ đồng và mức vốn điều lệ khoảng 200 nghìn tỷ đồng, nhỉnh hơn khá nhiều mức khoảng 220 nghìn tỷ đồng vốn tự có và 140 nghìn tỷ đồng vốn điều lệ của nhóm các NHTM Nhà nước.

Đáng chú ý, vốn điều lệ của nhóm các NHTM Nhà nước năm 2016 gần như không tăng so với năm ngoái, trong khi đó, vốn điều lệ của nhóm các NHTM Cổ phần lại tăng khoảng 1.7%, cho thấy tình trạng khó khăn trong tăng vốn điều lệ của nhóm NHTM Nhà nước.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, bức tranh lợi nhuận các ngân hàng thương mại tiếp tục cho thấy sự khởi sắc, với mức tăng trưởng nhiều thành viên đạt từ 13% – 15%, trong khi cùng kỳ năm 2016 chỉ dừng ở mức tăng 1 con số hoặc chớm tăng nhẹ. Nhóm NHTM Nhà nước, tiếp tục thể hiện tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao, nhỉnh hơn so với nhóm NHTM Cổ phần.

Trong đó, Ngân hàng Ngoại thương Việt nam (Vietcombank) giữ vị trí số 1 về lợi nhuận trên toàn hệ thống. Tại nhóm NHTM Cổ phần, dẫn đầu là Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), nhóm này tiếp tục cho thấy sự ổn định và tăng trưởng đều đặn qua các năm. Theo báo cáo tài chính công bố, lần lượt những Ngân hàng Quân đội (MB), Ngân hàng Phương Đông (OCB), Ngân hàng Tiên Phong (TPBank), Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB), Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank)… đều cho con số lợi nhuận ước tính ấn tượng so với cùng kỳ 2016.

Trong bối cảnh hoạt động cho vay vẫn rủi ro, các ngân hàng cũng phải tập trung xử lý nợ xấu thì hướng đi tương lai của các ngân hàng sẽ đến từ chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ để nâng cao nguồn thu phí và cải tiến kênh phân phối. Đây là bài toán khó cần giải đối với từng ngân hàng, không chỉ các ngân hàng trong nước, mà cả các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài.

Cụ thể, trái với sự “hăm hở” trong thời gian đầu đổ vốn vào Việt Nam, sau 6 tháng đầu năm 2017, một loạt các ngân hàng nước ngoài đã liên tục phải rút lui khỏi thị trường này. Giải thích nguyên do hiện tượng trên, chúng tôi cho rằng các ngân hàng ngoại có lợi thế về vốn và công nghệ, nhưng không thể hoạt động giống các nhà băng địa phương vì phải tuân thủ các quy định riêng. Đặc biệt trong bối cảnh mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, ngân hàng ngoại khó có thể mở rộng quy mô và lợi nhuận trong khi để có thể đầu tư trang bị hệ thống thiết bị, công cụ, ATM, POS như các ngân hàng trong nước là việc không đơn giản.

1.3 Quy định mới

Nghị quyết mới mất của Chính phủ ban hành về Chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, có yêu cầu ngành ngân hàng, cần tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng; xử lý cơ bản và triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém bằng các hình thức phù hợp với cơ chế thị trường.

Đến năm 2020, các NHTM triển khai áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực vốn Basel II, trong đó phấn đầu từ 12 – 15 ngân hàng đáp ứng đủ mức vốn tự có theo chuẩn mực trên; phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay bảo đảm cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình trong nhóm ASEAN-4.

Về cơ bản, việc tuân thủ lộ trình áp dụng Hiệp ước vốn Basel II theo dự thảo của NHNN (9/2017) là thử thách cho các ngân hàng thí điểm (đặc biệt nhóm 3 NHTM Nhà nước) nếu không có các biện pháp hỗ trợ từ cơ quản lý. Áp lực trên có thể làm tăng chi phí vốn, và hạn chế tăng trưởng tín dụng đối với các ngân hàng này trong năm nay.

Do việc tăng vốn sẽ gặp nhiều trở ngại, không loại trừ khả năng các ngân hàng này sẽ hạn chế tín dụng để duy trì hệ số CAR (việc này sẽ đem lại những tác động tiêu cực đến tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận toàn ngành); hoặc các cơ quan quản lý áp dụng các biện pháp hỗ trợ như giãn thời gian áp dụng, hoặc cho phép các ngân hàng nới room ngoại để thu hút nguồn vốn mới.

Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt

2.1 Giới thiệu

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) tiền thân là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Liên Việt (LienVietBank) được thành lập theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 91/GP-NHNN ngày 28/03/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Năm 2011, với việc Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (nay là Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam) góp vốn vào LienVietBank bằng giá trị Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (VPSC) và bằng tiền mặt. Ngân hàng Liên Việt đổi tên thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt. Cùng với việc đổi tên này, Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam chính thức trở thành cổ đông lớn nhất của LienVietPostBank.

Cổ đông sáng lập của LienVietPostBank là Công ty Cổ phần Him Lam, Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA) và Công ty dịch vụ Hàng không sân bay Tân Sơn Nhất (SASCO). Hiện nay, với số vốn điều lệ 6,460 tỷ đồng, LienVietPostBank hiện là một trong các Ngân hàng TMCP lớn tại Việt Nam.

Các cổ đông và đối tác chiến lược của LienVietPostBank là các tổ chức Tài chính – Ngân hàng lớn đang hoạt động tại Việt Nam và nước ngoài như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Wells Fargo (Mỹ), Ngân hàng Credit Suisse (Thụy Sỹ), Công ty Oracle Financial Services Software Limited…

Các cổ đông và đối tác chiến lược của LienVietPostBank là các tổ chức Tài chính – Ngân hàng lớn đang hoạt động tại Việt Nam và nước ngoài như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Wells Fargo (Mỹ), Ngân hàng Credit Suisse (Thụy Sỹ), Công ty Oracle Financial Services Software Limited…

2.2 Mô hình kinh doanh

Trên thế giới, mô hình ngân hàng bưu điện là mô hình ngân hàng triển khai các hoạt động trực tiếp đến các khách hàng thông qua mạng lưới các bưu điện sẵn có mà tại bất kỳ quốc gia nào, mạng lưới này cũng có quy mô cực lớn xét cả về số lượng điểm giao dịch và mức độ phủ kín về mặt địa hành chính. Đây cũng là mô hình được đánh giá cao tại các quốc gia phát triển như Đức, Nhật và Nam Phi.

Tại Việt Nam, mô hình kinh doanh của LienVietPostBank giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hoá các sản phẩm tài chính – ngân hàng nhằm hiện thực hóa triển vọng “Ngân hàng của mọi gia đình Việt Nam”.

Định hướng chính trong đó là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên giành riêng cho người nghèo, các hộ nông dân trong cả nước. Định hướng này có nhiều cơ sở thuận lợi vì hiện nay Ngân hàng Liên Việt đang triển khai hiệu quả Đề án Phát triển Tín dụng Nông nghiệp – Nông thôn.

2.3 Lợi thế cạnh tranh

Công nghệ hiện đại

Một trong những ưu thế vượt trội của LienVietPostBank chính là công nghệ hiện đại được đầu tư một cách bài bản và chuyên nghiệp ngay từ những ngày đầu thành lập Ngân hàng. Trong năm 2016 hệ thống Core Banking đã được đầu tư mới, dự kiến hoàn thành việc chuyển đổi muộn nhất giữa năm 2017 góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, hỗ trợ hiệu quả công tác quản trị.

Tiềm lực tài chính vững mạnh

Tính đến thời điểm ngày 31/12/2016, tổng tài sản đạt trên 141.000 tỷ đồng, huy động thị trường đạt hơn 116,000 tỷ đồng, tổng dư nợ đạt trên 83,000 tỷ đồng. Với tăng trưởng mạnh mẽ, vượt mục tiêu kế hoạch năm, tăng tới 32% so với năm 2015, hiện tại LienVietPostBank đang thuộc top 15 Ngân hàng thương mại có quy mô tài sản lớn nhất cả nước. Đặc biệt lợi nhuận trước thuế năm 2016 đã có sự bứt phá, đạt 1,348 tỷ đồng, tăng, tỷ lệ chi trả cổ tức theo đó cũng được điều chỉnh từ 8% lên 10%. Riêng Quý I năm 2017, lợi nhuận trước thuế của LienVietPostBank đạt gần 470 tỷ đồng.

HĐQT cùng ban điều hành phấn đấu trong 5 năm nữa ngân hàng sẽ đứng trong top 10 về các chỉ tiêu trọng yếu như Quy mô Tổng tài sản, Lợi nhuận, Huy động và Cho vay.

Ngoài ra ngân hàng cũng tăng cường hợp tác với các định chế tài chính lớn của nước ngoài nhằm nâng cao vị thế trên thị trường tài chính. Trong đó mới nhất là việc ký kết Hợp đồng vay hợp vốn trị giá 50 triệu USD với 8 Ngân hàng Đài Loan nhằm bổ sung nguồn ngoại tệ trung dài hạn, đáp ứng một phần nhu cầu vay ngoại tệ của các doanh nghiệp trong nước.

Chất lượng quản trị rủi ro

Với quy mô không ngừng phát triển, để ngân hàng hoạt động ổn định thì công tác quản trị rủi ro là một trong những yếu tố được quan tâm nhiều nhất. Năm 2016 về cơ bản đã kiểm soát tình hình nợ xấu ở mức thấp. Ban quản trị cũng chỉ đạo giải quyết dứt điểm các khoản nợ xấu của những năm trước còn tồn tại : thu hồi 509 tỷ đồng nợ và 65 tỷ đồng nợ lãi.

Mạng lưới hoạt động rộng

Cuối năm 2015, đầu năm 2016, Ngân hàng nhà nước ban hành Thông tư 43/2015/TT-NHNN về tổ chức và hoạt động của phòng giao dịch bưu điện trực thuộc LienvietPostbank đã tạo hành lang pháp lý để LienvietPostbank trở thành ngân hàng duy nhất được có Phòng giao dịch đến tất cả các đơn vị hành chính cấp huyện trên cả nước.

Với thông tư này trong 3 năm tới LienvietPostbank sẽ có phòng giao dịch tại tất cả các quận huyện trên toàn quốc, đưa sản phẩm dịch vụ ngân hàng chất lượng đến mọi người dân.

2.4 Ban quản trị

Gần đây ban quản trị LienVietPostBank có khá nhiều sự biến động với việc ông Dương Công Minh rời ghế chủ tịch để chuyển sang Sacombank cũng như ông Nguyễn Đức Hưởng được bầu thay chức vụ này. Theo đó ông Nguyễn Đức Hưởng giữ chức vụ Chủ tịch HĐQT ngân hàng nhiệm kỳ 2013-2018. Ngoài ra, ông Phạm Doãn Sơn cũng được bầu giữ chức vụ Phó chủ tịch thường trực HĐQT (kiêm Tổng giám đốc), để tăng cường nhân sự cấp cao cho LienVietPostBank khi ông Dương Công Minh từ nhiệm.

Ông Hưởng là một trong những lãnh đạo cao cấp tham gia sáng lập, đặt nền móng và điều hành LienVietPostBank từ những ngày đầu. Ông cũng chính là một trong những người đưa ra chủ trương sáp nhập hệ thống tiết kiệm bưu điện vào ngân hàng Liên Việt.

Sơ đồ tổ chức LienVietPostBank

2.5 Điểm nhấn

Năm 2016 LienVietPostBank đã hoàn thành và vượt mức các chỉ tiêu mà Đại hội đồng cổ đông đề ra. Cụ thể trong tương quan so sánh với 34 ngân hàng thương mại còn lại:

–    Về lợi nhuận                                            :           Xếp thứ 9/35

–    Về huy động thị trường 1                       :           Xếp thứ 12/35

–    Về cho vay thị trường 1                          :           Xếp thứ 13/35

–    Về tổng tài sản                                       :           Xếp thứ 13/351

Các chỉ tiêu cụ thể:

2.6 Định giá

Chúng tôi định giá theo LPB dựa trên chỉ số P/E

Phương pháp định giá này dựa trên hệ số P/E và EPS (Earning per share) để tính toán mức giá hiện hành của LPB. Theo đó để ước tính tỷ lệ P/E, chúng tôi so sánh mức độ tương quan giữa các ngân hàng, dựa trên số liệu thu thập trên báo cáo tài chính các ngân hàng, sau đó lọc ra các ngân hàng có tỷ lệ tương quan cao nhất với LBP và dựa trên các hệ số P/E và tỷ trọng ảnh hưởng của các ngân hàng này ước tính mức P/E của LPB.

Tất cả các số liệu so sánh đều được đánh giá dựa trên mức trung bình 4 năm gần nhất từ 2013 – 2016.

Kết quả: Dựa trên số liệu phân tích, đánh giá xác định 4 ngân hàng có mức độ tương quan với LPB cao nhất là ACB, SHB, STB và MBB. Tuy nhiên do STB đang trong quá trình tái cơ cấu bị ảnh hưởng nhiều nên không xét. Do đó định giá đã được tính toán theo P/E của 3 ngân hàng còn lại: SHB, ACB và MBB. Dựa trên tỷ trọng tương quan và EPS trung bình của LPB, chúng tôi ước tính mức giá hiện tại của LPB vào khoảng 12,829 đồng/cp.

2.7 Đánh giá chung

Tình hình kinh doanh

LPB có quy mô nhỏ hơn đáng kể so với các ngân hàng hiện có trên sàn giao dịch, thể hiện qua tổng thu nhập. Đồng thời do các khoản thu nhập ngoài lãi của LPB hầu như không đáng kể và thể hiện kết quả âm qua các năm nên thu nhập lãi gần như tương đương với tổng thu nhập. Tuy nhiên khi xét trên các tiêu chí đánh giá về hiệu quả LPB lại cho thấy các thông số vượt trội so với các ngân hàng lớn hơn như ACB hay STB và gần tương tự với SHB.

Bên cạnh đó, khi đối chiếu với chỉ tiêu về chi phí, LPB cùng thể hiện sự tương đồng với các ngân hàng như ACB, STB hay SHB, tuy nhiên nhỉnh hơn so với các tổ chức cùng ngành.

Đi sâu hơn về tình hình kinh doanh trong năm 2016, tăng trưởng thu nhập lãi thuần của LPB đạt mức trung bình 14.7%/năm, tương đương mức trung bình ngành. Theo đó tăng trưởng lợi nhuận sau thuế đạt mức tăng trưởng trung bình lên tới 31.6%, cao hơn nhiều so với các ngân hàng top 1 như BID hay VCB. Tuy nhiên kết quả này bị ảnh hưởng mạnh bởi tăng trưởng đột biến trong năm 2016, lên tới 203.8%. Riêng các năm trước từ 2012 – 2015, LPB đã trải qua thời kỳ tăng trưởng âm với mức lợi nhuận sau thuế liên tục teo lại từ 997 tỷ năm 2011 xuống chỉ còn 349.8 tỷ trong năm 2015. Nếu không xét đến tăng trưởng trong năm 2016, trên thực tế, tính đến thời điểm năm 2015, mức tăng trưởng lợi nhuận sau thuế của LPB đạt trung bình -9.3% và là thấp nhất trong tất cả các ngân hàng.

Kết quả trên đến từ 2 nguyên nhân chính. Thứ nhất, ngoài bất lợi của ngành ngân hàng nói chung chịu suy thoái trong giai đoạn từ 2012 – 2014 dẫn tới chi phí hoạt động và dự phòng tăng vọt, trong đó mức tăng của LPB là đột biến, lên tới tận 400% trong năm 2012, sau đó giảm dần và tiếp tục tăng tới 502 tỷ trong năm 2016.

Nguyên nhân thứ 2 đến từ cơ cấu doanh thu của LPB. Mảng mua bán chứng khoán đầu tư của ngân hàng chiếm tỷ trọng khá lớn (chỉ đứng sau mảng cho vay) với tỷ lệ trung bình giai đoạn 4 năm từ 2012 – 2016 lên tới 32% (So với tài sản thuần, đã bao gồm dự phòng), nhưng liên tục ghi nhận lợi nhuận âm. Mức cao nhất lợi nhuận mảng này mang lại là năm 2014 với 247 tỷ, tuy nhiên nhìn chung vẫn đóng góp quá khiêm tốn nếu so với giá trị đầu tư tại mảng này. So với các ngân hàng khác, tỷ trọng thu nhập ngoài lãi luôn là một phần khá quan trọng, chiếm tỷ trọng trung bình đến gần 20% tổng thu nhập, thì đối với LPB, mảng này thậm chí khiến lợi nhuận thuần của ngân hàng giảm đi. LPB đã báo lỗ mảng này trong suốt thời gian từ năm 2013 đến nay (Trong đó lỗ từ hoạt động dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất – báo cáo tài chính công bố của LPB không giải trình chi tiết về khoản lỗ này).

Xét riêng trong năm 2016, lợi nhuận sau thuế đột biến (Không phải ngẫu nhiên LPB chọn thời điểm này để niêm yết) đến chủ yếu từ việc thu nhập lãi thuần tăng trưởng mạnh mẽ tới 39%, cao nhất trong tất cả các ngân hàng. Ngân hàng có mức tăng trưởng đứng thứ 2 là BID với chỉ 27%. Theo đó nguyên nhân có thể đến từ việc mảng cho vay đã tăng trưởng rất mạnh trong 4 năm trở lại đây nhờ thay đổi chiến lược tập trung cho mảng bán lẻ từ năm 2015, đạt mức tăng trưởng trung bình 36.74% (Riêng năm 2016 là 41.89%). Ngoài ra, việc lỗ từ mảng thu nhập ngoài lãi giảm chỉ còn 152 tỷ do mảng hoạt động dịch vụ và kinh doanh ngoại hối, vàng đã tích cực và ghi nhận lợi nhuận trở lại cũng là một nguyên nhân.

Ngoài ra, thu nhập tăng nhanh đã khiến tỷ trọng chi phí hoạt động giảm xuống còn 52.5%. Không có sự cải thiện đáng kể nào đối với các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

Cơ cấu tài sản

Cũng giống như bất cứ ngân hàng nào, mảng quan trọng nhất là cho vay và cho thuê tài chính. Tuy nhiên sự khác biệt đối với LPB đó là tỷ trọng mảng chứng khoán đầu tư chiếm tới 1/3 tổng tài sản, tương đồng với các ngân hàng tư nhân khác như MBB hay ACB. Đồng thời tỷ lệ tài sản sinh lãi trên tổng tài sản cũng tương đồng nhiều hơn (Dù thấp hơn) so với các ngân hàng này hơn là so với STB.

Tỷ trọng lớn của mảng chứng khoán đầu tư đã gây không ít khó khăn cho LPB. Do LPB không công bố báo cáo tài chính chi tiết nên tạm thời vẫn chưa có thông tin cụ thể về các khoản đầu tư của ngân hàng này.

Tăng trưởng

Hai chỉ tiêu quan trọng về tăng trưởng là tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động của LPB vượt trội so với các ngân hàng khác (kể cả các ngân hàng ở top đầu như VCB, CTG hay BID…). Tuy nhiên, đây đơn thuần chỉ mang tính tạm thời do quy mô LPB còn nhỏ. Theo đó tăng trưởng tín dụng của LPB ở mức cao nhất với 36.74%, xếp trên SHB ở vị trí thứ hai, các ngân hàng khác như ACB, STB chỉ đạt mức tăng trưởng tín dụng ở tầm trung. Ngoài ra, LPB cũng là 1 trong 2 ngân hàng đạt mức tăng trưởng huy động trung bình lớn nhất trong 4 năm trở lại đây.

Khả năng sinh lợi và định giá

Mức P/E của các ngân hàng được tính toán dựa trên mức giá hiện tại và EPS trung bình 4 năm từ 2013 – 2016. Kết quả cho thấy với BVPS và EPS hiện tại, ngân hàng LPB hiện khá tương đồng với SHB, ACB. Bên cạnh đó, chỉ số ROE của LPB cũng tương đương với SHB, STB và ACB (MBB thậm chí có tỷ lệ ROE tốt hơn hẳn so với các ngân hàng tứ trụ).

Kỳ vọng đột biến có thể đến từ mảng chứng khoán đầu tư nói riêng (Do mảng này chiếm tỷ trọng khá đáng kể) và hoạt động dịch vụ nói chung. Bên cạnh đó, định hướng và triển vọng tăng trưởng ngành ngân hàng cũng sẽ đóng vai trò lớn quyết định tiềm năng tăng trưởng của ngân hàng.

Tham khảo một vài chỉ số khác

Thông tin chi tiết xin mời Quý khách tham khảo Tại đây

Bình luận

Bình luận