Báo cáo triển vọng Ngành Dầu khí và Năng lượng

Về Ngành Dầu khí: Theo số liệu thống kê của tập đoàn BP (tập đoàn dầu mỏ hàng đầu thế giới – nước Anh), Việt Nam là quốc gia đứng thứ 28 trên tổng số 52 nước trên thế giới có tài nguyên dầu khí. Tính đến hết năm 2013, trữ lượng dầu thô xác minh của Việt Nam vào khoảng 4.4 tỷ thùng đứng thứ nhất trong khu vực Đông Nam Á, còn lượng khí xác minh của Việt Nam vào khoảng 0.6 nghìn tỷ m3 , đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Malaysia).

Kể từ khi khai thác vào năm 1986 tại mỏ Bạch Hổ, trải qua hơn ba thập kỷ, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã có bước trưởng thành vượt bậc về mọi mặt để trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh của quốc gia.

Petrovietnam đã có một vị trí quan trọng, là một mũi nhọn trọng yếu của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, hàng năm đóng góp trung bình 20 – 30% tổng thu ngân sách Nhà nước.

Petrovietnam đã đưa Ngành Dầu khí Việt Nam có vị trí trong cộng đồng các quốc gia khai thác dầu khí trên thế giới, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đến nay, Petrovietnam đã xây dựng được hệ thống công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ từ khâu tìm kiếm thăm dò, khai thác – phát triển công nghiệp khí đến chế biến dầu khí và dịch vụ dầu khí.

Về Ngành Năng lượng: Xăng dầu là nguồn năng lượng từ dầu mỏ và là mặt hàng thiết yếu đóng vai trò quan trọng trong vấn đề an ninh năng lượng quốc gia.

Ngành Năng lượng nói chung và Petrolimex nói riêng sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong tương lai bởi việc hội nhập với các nền kinh tế thế giới lớn và mục tiêu Công nghiệp hóa, phát triển kinh tế sẽ khiến nhu cầu về nguồn năng lượng này tiếp tục tăng cao.

THÁCH THỨC

1. Rủi ro ảnh hưởng bởi đồng USD

Mặc dù trong thời gian gần đây thị trường dầu mỏ có nhiều dấu hiệu khả quan, tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều yếu tố bất ổn, đặc biệt là rủi ro bị ảnh hưởng bởi khả năng đồng USD tăng mạnh nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tiếp tục điều chỉnh lãi suất trong thời gian tới. Theo các nhà phân tích năng lượng thế giới, các chính sách kinh tế mới của Mỹ, đặc biệt là chính sách năng lượng của Chính phủ dưới thời Tổng thống Donald Trump cùng diễn biến phức tạp tại khu vực Trung Đông, nơi tập trung nhiều quốc gia sản xuất dầu lửa hàng đầu thế giới sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới giá nhiên liệu trong thời gian tới đây.

2. Rủi ro về việc tuân thủ cắt giảm sản lượng

Trong tháng 7/2017 sản lượng của OPEC tăng 173,000 thùng/ngày lên mức 32.87 triệu thùng/ngày – ngưỡng cao nhất kể từ tháng 12/2016. Nguyên nhân chủ yếu là do sản lượng khai thác của Nigeria, Libya (hai quốc gia thành viên được miễn ký thỏa thỏa thuận cắt giảm sản lượng) tăng mạnh lần lượt đạt ngưỡng 1.75 triệu thùng/ ngày và 1 triệu thùng/ ngày. Tuy nhiên, hai nước này cũng đã cam kết sẽ cân nhắc hạn chế khai thác khi sản lượng trong nước đạt 1.8 triệu thùng/ngày.

Mặt khác, trong những tháng gần đây mức độ tuân thủ hiện tại của tổ chức cung dầu giảm xuống còn 86% so với mức 96% hồi đầu năm. Con số này khiến thị trường nghi ngờ khả năng tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC. Điều này khiến nhà đầu tư e ngại về khả năng thị trường có thể tái cân bằng trở lại trong khi OPEC dự đoán nhu cầu dầu sẽ tăng trong thời gian tới.

3. Sản lượng dầu đá phiến từ Mỹ

Giá dầu tăng trở lại đồng nghĩa với việc nguồn vốn đầu tư sẽ lại đổ vào lĩnh vực này. Cụ thể, số lượng giàn khoan dầu đã tăng trở lại trong những tháng gần đây và xuất hiện dấu hiệu “âm thầm” phục hồi sản xuất trong lĩnh vực vốn bị kìm hãm thời gian qua, do giá dầu sụt giảm mạnh.

Theo IEA, các quốc gia thành viên OPEC muốn giảm sản lượng để đẩy cao giá dầu, nhưng chỉ ở mức độ nhất định. Nếu giá dầu tăng quá cao, thì các nhà sản xuất dầu đá phiến ở Mỹ có thể quay đầu đẩy mạnh khai thác. IEA nhấn mạnh, một số nhà khai thác dầu đá phiến ở Mỹ đã có những khoản đầu tư mới.

4. Sự phát triển mạnh của xe điện sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng xăng dầu

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các dòng xe điện, công nghệ hiện đại giúp tiết kiệm nhiên liệu, tăng trưởng kinh tế chậm lại và giá nhiên liệu tăng, giới chuyên gia dự báo năm 2030 hoặc thậm chí năm 2024 có thể là năm cuối cùng nhu cầu dầu mỏ lên đến đỉnh điểm.

Theo các nhà phân tích của ngân hàng Goldman Sachs, sự tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế mới nổi, dẫn đầu là Ấn Độ, có thể đẩy lùi thời hạn nhu cầu về dầu mỏ “đứng im” đến năm 2030. Tuy nhiên, nhu cầu dầu mỏ trong thập kỷ tới vẫn giảm dần do nhu cầu của ngành vận tải ngày càng ít đi.

THUẬN LỢI

1. Nhu cầu xăng dầu trong nước cũng như thế giới đang tăng lên

Tại thị trường thế giới: tăng trưởng nhu cầu dầu trong năm 2017 được nâng lên thêm 50,000 thùng/ngày lên mức 1.42 triệu thùng/ngày, chủ yếu nhờ những phát triển ngoài mong đợi từ Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD khu vực Châu Mỹ và Châu Âu trong quý 2/2017. Tổng lượng tiêu thụ toàn cầu hiện tại đang ở mức 96.77 triệu thùng/ngày. Bên cạnh đó, tăng trưởng nhu cầu cho năm 2018 cũng được dự báo nâng thêm 70,000 thùng/ngày so với báo cáo trước đó của OPEC, lên mức 1.35 triệu thùng/ngày với tổng tiêu thụ toàn cầu rơi vào khoảng 98.12 triệu thùng/ngày.

Theo số liệu mới nhất từ OPEC, tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ của các nước OECD được nâng 60,000 thùng/ngày lên mức trung bình 0.37 triệu thùng/ngày. Nhu cầu đã tăng trưởng khá mạnh trong quý 2/2017 chủ yếu ở khu vực Châu Mỹ và Châu Âu. Cụ thể:

  • OECD Châu Mỹ: Nhu cầu dầu nửa cuối năm 2017 được kỳ vọng tăng trưởng 0.23 triệu thùng/ngày so với năm 2016, tuy nhiên con số này sẽ giảm cho năm 2018 và dự báo tăng trưởng ở mức 0.19 triệu thùng/ngày. Trong đó, Mỹ và Canada là hai nước được kỳ vọng sẽ có tăng trưởng mạnh, bù đắp cho việc sụt giảm tại Mexico – quốc gia đang có thực trạng kinh tế không thực sự tốt.
  • OECD Châu Âu: Nhu cầu dầu được dự đoán sẽ tăng trưởng khoảng 0.15 triệu thùng trong năm 2017, giảm xuống mức 0.07 triệu thùng trong năm 2018. Nhu cầu trong 2 năm 2015 và 2016 đã ghi nhận sự tăng trưởng mạnh nhờ sức khỏe nền kinh tế được cải thiện dẫn tới gia tăng nhu cầu sử dụng dầu trong giao thông và các ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, biến đổi thời tiết lạnh hơn cũng là một trong nguyên nhân khiến nhu cầu tiêu thụ dầu tăng trong những tháng đầu năm 2017. Tính đến thời điểm hiện tại, nhu cầu tại hầu hết các quốc gia trong khu vực thể hiện sự tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ 2016. Kỳ vọng chung cho tăng trưởng tiêu thụ trong 2 năm tới nhìn chung tích cực, dù chậm hơn so với giai đoạn nửa đầu năm, chủ yếu do những hạn chế mang tính đặc thù của khu vực này như thuế tiêu thụ cao và nguồn nhiên liệu thay thế dồi dào.
  • OECD Châu Á Thái Bình Dương: Dự báo nhu cầu tại khu vực này sẽ giảm nhẹ 0.01 triệu thùng/ngày trong năm 2017, trong khi tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với năm 2018. Trong đó, nhu cầu tại Nhật tiếp tục ghi nhận sự sụt giảm từ đầu năm 2017 do nền kinh tế vẫn chưa có những dấu hiệu khả quan, sự cải thiện hiệu quả trong lĩnh vực giao thông cũng như nguồn nhiên liệu thay thế. Mặc dù vậy, giá dầu nhìn chung vẫn cho thấy sự tích cực tại quốc gia này. Ngược lại, Hàn quốc lại cho thấy những tín hiệu tích cực hơn về nhu cầu tiêu thụ dầu, cũng như với Australia, New Zealand hay một số nước khác.

Trung Quốc: dự báo tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ thêm 0.39 triệu thùng/ngày, cao hơn mức dự báo cho năm 2018, ở mức 0.35 triệu thùng/ngày nhờ cải thiện tại các lĩnh vực như giao thông và công nghiệp dù tăng trưởng GDP được kỳ vọng sẽ giảm nhẹ trong năm 2018.

Ngoài ra, nhu cầu tiêu thụ dầu tại các nước Châu Á, Mỹ La Tinh và Trung Đông dự báo cũng sẽ tăng nhẹ cho cả năm 2017 và năm 2018.

Tại thị trường trong nước: Hãng nghiên cứu Business Monitor International (BMI) từng đưa ra ước tính tiêu thụ xăng dầu của Việt Nam sẽ đạt tăng trưởng kép hàng năm 4.7% trong 5 năm tới và gấp 3.6 lần so với thế giới. Bên cạnh đó, một hãng chuyên về phân tích năng lượng Wood Mackenzie cũng dự báo tiêu thụ xăng dầu năm 2020 tại Việt Nam sẽ đạt 22.4 triệu tấn và năm 2025 sẽ đạt 29.9 triệu tấn. Tính ra mức tăng trưởng kép hàng năm trong 10 năm tới  của Việt Nam sẽ đạt khoảng 4.9%.

Bên cạnh đó, tiêu thụ xăng dầu Việt Nam hiện đang ở mức thấp so với khu vực. Theo số liệu Globalpetrolprices tháng 8/2016 cho biết mức tiêu thụ xăng dầu trên đầu người tại Việt Nam là 0.21 lít/ngày, chỉ bằng 67% mức tiêu thụ của các nước láng giềng như Thái Lan và Indonesia, và chưa đến 20% mức tiêu thụ của Malaysia. Ngoài ra, hiện giá xăng dầu Việt Nam thấp hơn bình quân 10% so với mức trung bình các nước ASEAN. Tất cả các yếu tố trên có thể cho thấy, tiêu thụ xăng dầu còn tiềm năng tăng trưởng rất lớn trong tương lai và là cơ hội cho các doanh nghiệp dầu khí trong nước khai thác thị trường.

2. Thoả thuận từ OPEC về cắt giảm sản lượng

Cuối năm ngoái, OPEC và một số nước xuất khẩu dầu thô khác trong đó có Nga đã ký thỏa thuận cắt giảm sản lượng 1.8 triệu thùng/ngày nhằm mục đích tái cân bằng thị trường dầu thô và đẩy giá dầu lên cao. Theo đó các nước thành viên OPEC cam kết cắt giảm khai thác 1.2 triệu thùng/ngày, còn các nước xuất khẩu dầu thô khác, trong đó có Nga, cắt giảm 600,000 thùng/ngày. Việc thực hiện thỏa thuận cắt giảm này đã giúp giá dầu phục hồi lên hơn 50 USD/thùng so với mức thấp kỷ lục dưới 30 USD/thùng hồi năm ngoái.

Thỏa thuận ban đầu chỉ kéo dài từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2017. Tuy nhiên, sau khi cuộc họp được tổ chức hồi tháng 5 kết thúc, các nước đã đồng thuận quyết định kéo dài thời hạn cắt giảm đến tháng 3/2018 nhưng vẫn giữ nguyên mức hạn ngạch 1.8 triệu thùng/ngày.

Dữ liệu sơ bộ cho thấy nguồn cung dầu thế giới đã giảm 0.41 triệu thùng trong tháng 8 so với tháng trước đó, xuống mức trung bình 96.75 triệu thùng/ngày, tăng 1.66 triệu thùng / ngày so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, nguồn cung tại các quốc gia không thuộc OPEC giảm 0.32 triệu thùng/ngày trong tháng 8, xuống mức trung bình 57.68 triệu thùng/ngày và đã được dự đoán tăng trưởng khoảng 0.68 triệu thùng/ngày trong năm 2017. Sự thay đổi chủ yếu cho tháng 8 là kết quả của việc tăng trưởng sản xuất tại Kazakhstan tăng 0.04 triệu thùng/ngày trong năm 2017 và giảm tăng trưởng nguồn cung tại Mỹ đi 0.7 triệu thùng/ngày do ảnh hưởng từ bão Harvey. Trong năm 2018, nguồn cung của các quốc gia không thuộc OPEC được điều chỉnh giảm 0.1 triệu thùng /ngày.

Trong năm 2018, nguồn cung tại các nước không thuộc OPEC (Ngoại trừ Trung Quốc, Trung Đông và một số quốc gia khác) sẽ tăng trưởng 1 triệu thùng/ngày, chủ yếu do điều chỉnh giảm tại Nga và Kazakhstan. Các quốc gia khác như Mỹ, Brazil, Canada, Anh và Cộng hòa Congo được dự đoán đóng vai trò chính cho sự tăng trưởng, đặc biệt là Mỹ – nơi có ngành công nghiệp dầu đá phiến rất phát triển và hơn nữa lại đang được tiếp sức bởi mức giá thuận lợi. Ngược lại, Trung Quốc đươc dự báo sẽ giảm nguồn cung 0.17 triệu thùng/ngày, trong khi khu vực Trung Đông và một số nước châu Á khác sẽ giảm lần lượt 0.05 triệu thùng/ngày và 0.04 triệu thùng/ngày.

3. Trữ lượng dầu của Mỹ đang có xu hướng giảm

OPEC cũng mới có nhận định thêm “Rất có thể trữ lượng dầu thô của Mỹ sẽ giảm hơn nữa do hoạt động lọc dầu của nước này đang được tăng cường”. Cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) mới đây cắt dự báo sản lượng dầu thô Mỹ trong năm 2018. Theo đó, cơ quan này dự báo rằng sản lượng khai thác của Mỹ trong năm 2018 sẽ tăng khoảng 560,000 thùng/ngày lên mức 9.91 triệu thùng/ngày. Tháng trước, EIA dự báo sản lượng khai thác của Mỹ sẽ tăng khoảng 570,000 thùng/ngày lên mức 9.9 triệu thùng/ngày.

Bên cạnh đó, EIA còn dự đoán nhu cầu dầu mỏ của Mỹ trong năm 2017 sẽ tăng khoảng 340,.000 thùng/ngày so với 310,000 thùng/ngày trước đó. Còn đối với năm 2018, nhu cầu dầu mỏ có thể tăng 330,000 thùng/ngày.

Việc trữ lượng dầu thô Mỹ giảm đồng thời dấy lên hy vọng thỏa thuận cắt giảm sản lượng sẽ giúp trữ lượng lượng dầu thô toàn cầu được tái cân bằng trở lại.

4. Tình hình khắc phục bão Harvey của Mỹ không quá xấu

Mới đây, Tổng thống Trump đã bắt tay vào quản lý các vấn đề miễn trừ để giảm bớt cơn bão Harvey ảnh hưởng đến giá nhiên liệu bán lẻ. Tác động của bão Harvey ít hơn lúc ban đầu bị lo ngại, không gây thiệt hại lớn cho cơ sở hạ tầng sản xuất ra nước ngoài và việc khởi động lại các nhà máy lọc dầu diễn ra nhanh hơn sau cơn bão Rita năm 2005. Tính đến ngày 12 tháng 9, chỉ có 734,000 thùng / ngày Công suất tinh chế bờ biển vẫn bị đóng cửa hoàn toàn, 4% tổng lượng nước Mỹ. Tuy nhiên, hai tuần ngừng hoạt động của các nhà máy lọc dầu và nhu cầu giảm đã có những tác động lớn lên cả thị trường dầu thô lẫn các sản phẩm dầu mỏ. Chênh lệch giữa Brent-WTI đã tăng lên khoảng 6 USD / thùng và giá bán lẻ xăng dầu và diesel vẫn được duy trì ở mức cao, bao gồm cả ở Florida do ảnh hưởng của sự gián đoạn hoạt động giao thông liên quan đến cơn bão Irma sau đó.

Chính quyền Trump đã thực hiện một số hành động hẹp nhằm giúp đẩy nhanh bình thường hóa cung cấp sản phẩm. Một sự hoán đổi rất nhỏ từ Dự trữ Dầu khí Chiến lược (SPR) đã được ủy quyền để giúp duy trì sự sử dụng đầy đủ tại nhà máy lọc dầu Charles Charles của Phillips 66. Không chỉ thế, Mỹ còn ban hành một số miễn giảm hẹp nhiên liệu tiêu chuẩn thông thường hay  và phép sử dụng các tàu không phải của Hoa Kỳ để vận chuyển các sản phẩm dầu mỏ đến Florida từ các cảng Hoa Kỳ khác sau cơn bão Irma. Tất cả những nỗ lực của Nhà Trắng kỳ vọng các nhà máy lọc dầu tại nước này cũng sẽ trở lại, tăng cung dầu và tạo tín hiệu tốt tác động đến giá dầu trong thời gian tới.

5. Hàng loạt dự án lớn tại Việt Nam đang được triển khai

Hàng loạt các dự án lớn tại Việt  Nam đang  trong quá tình triển khai, nhằm hỗ trợ khai thác lợi thế nguồn tài nguyên quốc gia, đảm bảo nguồn nguyên liệu phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu.

Ngoài hoạt động chính từ nhà máy lọc hóa đầu Dung Quất và Nghi Sơn hiện đang có 4 dự án dầu khí lớn được triển khai và sẽ góp phần tạo nên bước ngoạt hoạt động của ngành trong thời gian tới, bao gồm:

  • Dự án B Ô Môn, Dự án Nam Côn Sơn 2- Giai đoạn 2,
  • Dự án Cá Rồng Đỏ,
  • Dự án Cá Voi Xanh.

Trong đó, đáng chú ý nhất là dự án Lô B Ô Môn, đây là dự án lớn nhất từ trước đến nay của Viêt Nam với tổng mức chi phí đầu tư trong 20 năm lên tới khoảng 7 tỷ USD. Công trình gồm một giàn công nghệ trung tâm và 46 giàn khai thác, một giàn nhà ở, một tầu chứa condensate và khoảng 750 giếng khai thác, tổng mức khí thu hồi dự kiến khoảng 107 tỷ m3 và 12.65 triệu thùng condensate. Dự án khí Lô B – Ô Môn khi đi vào khai thác với doanh thu dự kiến sẽ đạt khoảng 47 tỷ USD, trong đó, đóng góp cho ngân sách Nhà nước khoảng 18 tỷ USD.

Với lợi thế PVN là nhà thầu lớn nhất (42.9%), các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội trong việc tìm kiếm các hợp đồng cả về thi công và khai thác lớn cho các doanh nghiệp trong ngành trong thời gian ngắn và dài hạn sắp tới

Bên cạnh đó, các dự án Nam Côn Sơn 2 – Giai đoạn 2, dự án Cá Rồng Đỏ, dự án Cá Voi Xanh dự kiến cũng sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2018 -2020 hứa hẹn  sẽ tạo thêm nhiều công việc cho các công ty trong khâu thượng nguồn như PVD, PVS …

6. Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng ngành Dầu khí & Năng lượng

Để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện chiến lược của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), nhằm đưa Tập đoàn tăng tốc phát triển trong những năm tiếp theo (tầm nhìn 2020), Chủ tịch Hội đồng Thành viên PVN Phùng Đình Thực vừa gửi báo cáo Chính phủ và bộ, ngành liên quan về nhiệm vụ các chỉ tiêu chủ yếu trong 5 lĩnh vực chính của Tập đoàn. Đó là:

  • Thăm dò,
  • Khai thác,
  • Lọc hóa dầu,
  • Công nghiệp khí, công nghiệp điện
  • Dịch vụ kỹ thuật dầu khí.

Trong các mục tiêu cụ thể thì lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí đóng vai trò quyết định. Với mục tiêu gia tăng trữ lượng đảm bảo gấp 2 lần khối lượng đã khai thác bình quân. Khai thác dầu khí với chỉ tiêu đến năm 2020 và đến năm 2030 đạt tỷ lệ tăng trưởng gấp khoảng gần 2 lần với khối lượng đang khai thác hiện tại trong nước. Ở ngoài nước, mở rộng đầu tư tại 3 trung tâm là Nga và SNG; Nam Mỹ và Bắc Phi.

7. Giá dầu đang trên đà tăng trưởng (Trung và Dài hạn)

Tính đến ngày 29/09/2017 giá dầu đang giao dịch trên thị trường thế giới có nhiều dấu hiệu lạc quan, Chúng tôi phân tích cụ thể diễn biến giá dầu Brent Oil và Crude Oil WTI để Nhà đầu tư có cái nhìn rõ ràng hơn:

  • Giá dầu Brent đã phá vỡ xu thế giảm và chính thức bước vào xu thế tăng trung hạn. Hiện Brent Oil đang kiểm chứng lại vùng hỗ trợ 57 – 58 USD nhưng theo Chúng tôi đánh giá nhiều khả năng vùng hỗ trợ này sẽ phản ứng tốt và có thể trở thành nền giá mới để Brent Oil hướng đến mục tiêu 70 – 75 USD.
  • Giá dầu Crude WTI hiện đang chạm cản chéo trung hạn, tuy nhiên việc giá dầu Brent đã bứt phá trước có thể là yếu tố tác động tích cực cho việc bứt phá của giá dầu Crude WTI.

Chúng tôi cũng khá lạc quan với diễn biến giá dầu Crude WTI và đánh giá việc bứt phá có khả năng thành công cao để hướng đến mục tiêu 60 – 65 USD.

  • Chú thích:

Dầu Brent: Khoảng 2/3 hợp đồng dầu thô trên thế giới hiện nay được giao dịch theo giá dầu Brent và đây cũng là loại dầu được công nhận là tiêu chuẩn giá cho các hợp đồng toàn cầu.

Dầu WTI: trong các hợp đồng kỳ hạn ám chỉ loại dầu thô được khai thác tại Mỹ, vùng phía Tây bang Texas và được vận chuyển đến vùng Oklahoma. Thông thường WTI có giá cao hơn Brent, một phần vì chất lượng WTI tốt hơn, một phần vì Brent phải bị chiết khấu chi phí vận chuyển từ châu Âu sang Mỹ (thị trường tiêu thụ dầu thô lớn nhất thế giới). Tuy nhiên từ tháng 12/2008 giá Brent đã vượt lên giá WTI, thường cao hơn trên $10/thùng.

MỘT SỐ DOANH NGHIỆP NỔI BẬT

1. GAS: Tổng công ty cổ phần Khí Việt Nam

Tình hình kết quả kinh doanh

Năm 2016, doanh thu và lợi nhuận của PV GAS đều sụt giảm so với năm 2015 do ảnh hưởng từ giá dầu giảm sâu và duy trì ở mức thấp. Lường trước được những khó khăn, ngay từ đầu năm, PV GAS đã chủ động thực hiện quyết liệt đồng bộ các giải pháp, khắc phục các thách thức, vận hành an toàn hệ thống công trình khí và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh mà ĐHCĐ đã đề ra.

Kết thúc năm 2016, GAS ghi nhận doanh thu đạt 59,326 tỷ đồng (-8% yoy) và lợi nhuận sau thuế đạt 7,172 tỷ đồng (-19% yoy), lần lượt vượt 107% và 139% so với kế hoạch đặt ra. Trong đó:

  • Hoạt động kinh doanh khí khô là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn doanh thu (59%). Năm 2016, với khó khăn đến từ giá dầu giảm mạnh đã tác động đến giá bán khí cho khách hàng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của PV GAS. Tổng sản lượng khí cung cấp cho các khách hàng là 10,301 triệu m3, hoàn thành 107% kế hoạch năm, trong đó khách hàng điện chiếm tỷ trọng 82% sản lượng khí tiêu thụ, đạm 10%, khách hàng công nghiệp khác 8%.
  • LPG: Năm 2016 PV GAS đã hoàn thành kế hoạch sản lượng ở mức cao và hiệu quả với việc cung cấp ra thị trường 1,352 nghìn tấn LPG. Với lợi thế về cơ sở vật chất, nguồn hàng, đội ngũ nhân viên và đối tác kinh doanh LPG giúp PV GAS tiếp tục giữ vững vị trí là nhà sản xuất và kinh doanh LPG số 1 tại thị trường Việt Nam và là doanh nghiệp duy nhất tại Việt Nam có khả năng nhập khẩu LPG lạnh từ Trung Đông.
  • Hoạt động vận chuyển khí chiếm 8% doanh thu nhưng lại chiếm đến 28% lợi nhuận gộp của PV GAS nhờ biên lợi nhuận vượt trội từ 3 đường ống Nam Côn Sơn 1 và PM3-CAA.

Kết quả 6 tháng đầu năm 2017

Tổng Công ty cổ phần Khí Việt Nam (GAS) đã công bố KQKD chính thức 6 tháng 2017 với doanh thu tăng 9.7% đạt 32 nghìn tỷ đồng. Diễn biến KQKD khả quan này chủ yếu do sự phục hồi của giá dầu thô khi sản lượng giảm 7.6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nửa đầu năm, lợi nhuận gộp GAS đã đạt 6,524 tỷ đồng (tăng 32% so với cùng kỳ) tương ứng với tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 20% (cùng kỳ là 16.6%). Trong đó, đóng góp lớn nhất đến từ mảng khí tự nhiên khi tăng trưởng tỷ suất lợi nhuận gộp khoảng 21.5% (+4% yoy). Theo đó, LNST đạt 3,900 tỷ đồng, tăng 33.7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Thuận lợi

Tổng Công ty khí Việt Nam (GAS) có vị trí thống lĩnh trong thị trường Việt Nam và không có đối thủ trực tiếp khi là đơn vị duy nhất được phép khai thác, nhập khẩu và phân phối khí tự nhiên tại Việt Nam.

Hiện nay, khoảng 85% nhu cầu khí thiên nhiên tại Việt Nam xuất phát từ ngành Điện, 10% từ sản xuất Phân bón và 5% còn lại từ các khách hàng công nghiệp.

Về mặt cơ bản, GAS là một trong những doanh nghiệp thực hiện quản trị tốt và tình hình tài chính lành mạnh, lượng tiền mặt dồi dào, không có rủi ro về thanh khoản.

Ngoài ra, tất cả hệ thống đường ống tại Việt Nam đều thuộc quyền kiểm soát của PV-Gas, do đó dòng tiền ổn định hơn và sự phụ thuộc vào giá thế giới được giảm nhẹ. 

Khó khăn

Hoạt động kinh doanh của GAS dựa trên tài nguyên thiên nhiên, và tài nguyên sẽ cạn kiệt sau một thời gian khai thác nhất định, chính vì thế đòi hỏi doanh nghiệp phải có các chiến lược kinh doanh hợp lý, duy trì hoạt động ổn định và mở rộng quy mô.

Hoạt động đầu tư khai thác, vận chuyển khí là hoạt động đòi hỏi vốn đầu tư đầu vào lớn, chính vì thế doanh nghiệp dễ gặp các vấn đề về rủi ro về tỷ giá và rủi ro thanh toán.

Ngoài ra, GAS hiện có nhiều hệ thống khí đưa vào hoạt động đã lâu, chi phí bảo dưỡng sửa chữa ngày một lớn. Bên cạnh đó, một số mỏ/lô/giàn thuộc bốn hệ thống khí hoạt động không ổn định, thời gian dừng/giảm cấp khí để thực hiện bảo dưỡng sửa chữa/khắc phục sự cố/thay thế thiết bị kéo dài gây khó khăn và bị động trong công tác điều độ khí.

Tình hình vay nợ

Tính đến hết ngày 31/12/2016, nợ phải trả của GAS đạt mức 15,910 tỷ đồng chiếm 28% tổng nguồn vốn, chủ yếu là nợ ngắn hạn. Chỉ số nợ vay trên vốn chủ sở hữu hiện chỉ ở mức 0.18 lần. Việc sử dụng nợ vay thấp giúp GAS giảm bớt rủi ro về chi phí lãi vay và áp lực trả nợ gốc. Bên cạnh đó, chỉ số nợ vay/vốn chủ sở hữu thấp cũng thể hiện khả năng dễ dàng huy động vốn vay trong tương lai cho các dự án đầu tư của PV GAS khi cần thiết.

So với năm 2015, tỷ lệ nợ phải trả/tổng nguồn vốn đã tăng lên 15% chủ yếu do PVGAS gia tăng vay dài hạn để tiếp tục đầu tư cho 2 dự án lớn là đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn 2 – Giai đoạn 1 và Dự án Nhà máy xử lý khí Cà Mau.

Trong đó, nợ vay của doanh nghiệp được quản lý tốt khi duy trì ở mức 35-40% tổng nợ phải trả. Tính đến ngày 31/12/2016, các khoản nợ vay chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm:

  • NH Cathay United Bank là 4,248 tỷ đồng ;
  • NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội là 1,424 tỷ đồng;
  • NH TMCP Đông Nam Á là 673 tỷ đồng ;
  • NH TMCP Công thương Việt Nam là 90 tỷ đồng.

Triển vọng

Triển vọng dài hạn của GAS đến từ các dự án lớn đang được đầu tư và sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2017-2019. Mới đây vào cuối tháng 6, hệ thống đường ống PM3 Cà Mau đã đi vào hoạt động, qua đó làm gia tăng sản lượng của GAS thêm 600,000 – 700,000 tấn LPG/ngày và 40,000 – 45,000 tấn Condensate/ngày trong giai đoạn cuối năm 2017. Ngoài ra, GAS đang tiến hành lập kế hoạch và triển khai hàng loạt các dự án mới như: LPG Dinh Cố, Nam Côn Sơn 2 – Giai đoạn, Sao Vàng/Đại Nguyệt, Cá Rồng … Dự kiến các dự án này sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động trong năm 2018 -2020.

Bên cạnh đó, GAS cũng sẽ tham gia các dự án bổ trợ cho Lọc hóa dầu Long Sơn vào thời điểm 2021. Đây cũng sẽ là thời điểm GAS hoàn thành việc nhập khẩu 1 triệu tấn khí LNG nhằm phục vụ cho 2 nhà máy nhiệt điện mới là Nhơn Trạch 3 và 4.

Liên quan đến giá dầu, việc cắt giảm sản lượng của các nước OPEC và Nga  được gia hạn thêm 9 tháng sẽ hỗ trợ và làm giảm rủi ro giảm sâu của giá dầu. Do đó, cho cả năm 2017, mặc dù sản lượng kinh doanh khí khô có thể giảm 2-3% do tình hình thời tiết thuận lợi khiến giảm sản lượng của các nhà máy nhiệt điện khí, nhưng chúng tôi vẫn dự báo hoạt động kinh doanh chính của GAS kỳ vọng có được sự tăng trưởng và biên LN gộp tốt hơn so với năm 2016.

Năm 2017, chúng tôi đánh giá KQKD của GAS sẽ cải thiện tích cực hơn trong bối cảnh giá dầu đang từng bước hồi phục khá vững chắc. Ước tính doanh thu 2017 của PVGas sẽ tăng nhẹ 3%, đạt 60,790 tỷ đồng trong khi LNST công ty mẹ giảm 9.5% đạt 6,348 tỷ đồng do không còn ghi nhận doanh thu hồi tố như năm 2016. EPS 2017 dự phóng trong khoảng 3,500 – 4,000 đồng/cp, tương ứng với mức P/E forward là 13 – 15.2x. Giai đoạn 2018 – 2020 sẽ chứng kiến nhiều dự án đi vào hoạt động, đây được đánh giá là thời điểm các triển vọng về dài hạn sẽ dần dần lộ diện cho doanh nghiệp.

2. PLX: Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam

Tình hình kết quả kinh doanh

Danh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ hàng năm đều chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng doanh thu và thu nhập khác của Tập đoàn (98.95% năm 2016). Trong đó, doanh thu từ kinh doanh xăng dầu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu thuần. Gần đây tỷ trọng doanh thu từ kinh doanh xăng dầu có xu hướng giảm nhẹ (từ 89% năm 2014 xuống 86% năm 2016), trong đó doanh thu kinh doanh xăng dầu từ khối xăng dầu đã giảm mạnh.

Nguyên nhân:

  • Giá xăng dầu thế giới giảm mạnh năm 2015 và chạm đáy vào tháng 2/2016;
  • Tác động từ sự thay đổi tỷ giá với biên độ lớn;
  • Sự phá giá tiền tệ quốc gia láng giềng Trung Quốc.

Bên cạnh mảng kinh doanh chính, doanh thu của Tập đoàn còn đến từ các mảng khác như hoá dầu, các sản phẩm gas, dịch vụ vận tải… Hầu hết doanh thu từ các mảng này đều có sự sụt giảm, ngoại từ mảng bảo hiểm năm 2016 tăng trưởng 10.6% so với cùng kỳ, tuy nhiên đóng góp của mảng kinh doanh này vào cơ cấu tổng doanh thu chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ 0.71%.

Kết thúc năm 2016, PLX ghi nhận 123,096 tỷ đồng DTT hợp nhất (-16.21% YoY), đạt 91.86% kế hoạch năm. Tuy nhiên đây không phải là vấn đề lớn đối với Tập đoàn khi sản lượng xăng dầu tiêu thụ vẫn đạt mức tăng trưởng tốt 8.35% YoY, đạt 11.55 triệu m3/tấn. Nhờ đó, biên lợi nhuận gộp được cải thiện so với cùng kỳ 2015, tăng từ 8.74% lên thành 11.48%. Chi phí tài chính đã giảm mạnh xuống còn 844 tỷ đồng (-67.42% YoY); dẫn đến khoản lợi nhuận sau thuế tăng trưởng ấn tượng, đạt 5,147 tỷ đồng (+68.35% YoY), trong đó lợi nhuận của cổ đông công ty mẹ đạt 4,669 tỷ đồng (+71.39% YoY).

Kế hoạch doanh thu, lợi nhuận hợp nhất năm tài chính 2017 – 2018

Theo báo cáo tài chính mới nhất, nửa đầu năm 2017 tổng doanh thu thuần hợp nhất của các đơn vị thành viên Petrolimex đạt 74,250 tỷ đồng (+26.4% YoY). Doanh thu tăng chủ yếu do giá dầu thô thế giới bình quân 6 tháng đầu năm tăng 25.6% so với cùng kỳ năm 2016. Tổng lợi nhuận hợp nhất trước thuế đạt 2,443 tỷ đồng, bằng 52.2% kế hoạch đề ra. Tổng lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 2,015 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận của riêng công ty mẹ là 1,776 tỷ đồng. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn điều lệ đạt 15.6 %.

Mảng kinh doanh xăng dầu chiếm 48.3% tổng lợi nhuận hợp nhất trước thuế của Petrolimex với tổng cộng 1,180 tỷ đồng. Các hoạt động kinh doanh ngoài xăng dầu góp phần mang về tổng cộng 1,263 tỷ đồng lợi nhuận. Trong đó, lợi nhuận từ lĩnh vực hoá dầu, nhựa đường, hóa chất đạt 440 tỷ đồng; lợi nhuận từ lĩnh vực kinh doanh gas đạt 98 tỷ đồng. Lợi nhuận từ lĩnh vực vận tải viễn dương, vận tải đường sông, vận tải bộ và nhiên liệu hàng không mang về lần lượt là 129 tỷ đồng và 171 tỷ đồng. Kinh doanh bảo hiểm, ngân hàng cũng mang lại lợi nhuận 112 tỷ đồng. Hai công ty tại nước ngoài của Petrolimex đóng góp khoản lợi nhuận khá khiêm tốn với vỏn vẹn 27 tỷ đồng. Petrolimex cho biết đã nộp ngân sách trong 6 tháng đầu năm tổng cộng 18,196 tỷ đồng.

Thuận lợi

Petrolimex có lợi thế lớn từ quy mô tài sản và vị thế đầu ngành. Là doanh nghiệp dẫn đầu trong hệ thống phân phối xăng dầu toàn quốc, Petrolimex phân phối xăng dầu nội địa qua 3 kênh phân phối chính:

  • Bán lẻ qua 2,400 trạm xăng (58% sản lượng);
  • Bán buôn qua 4,000 đại lý (31% sản lượng);
  • Phân phối trực tiếp cho các công ty than và điện lớn (11% sản lượng).

Tập đoàn có những điểm bán ở vị trí đắc địa trong tất cả 63 thành phố trên toàn quốc – là điểm quan trọng nhất cho chất lượng hệ thống phân phối.

Những năm vừa qua, so sánh với đối thủ cạnh tranh lớn nhất là PV Oil, Petrolimex có sự chủ động tốt hơn khi lựa chọn đầu vào sản phẩm. Được cấp 50% sản lượng kim ngạch nhập khẩu, Petrolimex đã linh hoạt lựa chọn đầu vào giữa sản phẩm trong nước và các nước nhập khẩu, để thu về lợi ích tối đa. Điển hình trong năm 2016, khi có chênh lệch giữa mức thuế nhập khẩu từ Hàn Quốc (10%) và mức thuế áp dụng để xác định giá bán ra theo MFN (20%), Petrolimex đã tăng cường việc nhập khẩu từ Hàn Quốc, qua đó làm tăng biên lợi nhuận lên mức cao nhất trong lịch sử (4.4%). Năm 2017, Petrolimex có thể hưởng lợi từ lợi thế đàm phán với Dung Quất, một khi Dung Quất được bãi bỏ việc thu điều tiết (10% trong quý 4/2016) và được chủ động điều chỉnh giá bán cho các doanh nghiệp phân phối để có được mức giá cạnh tranh đối với các mặt hàng nhập khẩu. Petrolimex khi đó với cương vị là nhà phân phối chiếm tới 48% sản lượng xăng dầu từ Dung Quất, sẽ có khả năng đàm phán được mức chiết khấu tốt và mang về lợi nhuận cao hơn mức định mức áp dụng chung cho thị trường.

Petrolimex nhận được hỗ trợ mạnh mẽ từ cổ đông chiến lược JX Nippon Oil & Energy (JXE) tập đoàn năng lượng số 1 Nhật Bản. JXE nắm giữ 8% cổ phần của tập đoàn (số liệu thống kê tháng 4/2017) trước mắt sẽ hỗ trợ về công nghệ cũng như thiết lập hệ thống phân phối xăng dầu cho Petrolimex. Ngoài ra, sự tham gia của JX Nippon cũng kéo theo kỳ vọng cho nhà máy lọc dầu Nam Vân Phong – dự án lọc dầu lớn có công suất khoảng 10 triệu tấn/năm – đã được hai bên ký kết từ cuối năm 2014 nhưng tới nay vẫn chưa công bố thông tin về thời điểm khởi công chính thức.

Ngành phân phối xăng dầu Việt Nam hiện đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (World Bank), mức tiêu thụ xăng dầu tính trên đầu người của Việt Nam đang đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực, với chỉ số trung bình 10 năm đạt 4.3% và trung bình 5 năm đạt 3.2%, trong khi các quốc gia khác như Malaysia, Phillipines hay Indonesia đều đã chững lại đáng kể. Kinh tế tăng trưởng, phản ánh sự gia tăng của sản xuất công nghiệp, kéo theo nhu cầu vận chuyển, nhu cầu tiêu thụ ô tô là những điểm nhấn quan trọng đẩy nhu cầu sử dụng nhiên liệu tăng cao.

Khó khăn

Quy mô khổng lồ là thế mạnh và cũng là yếu điểm của Petrolimex. Khả năng tăng trưởng của tập đoàn hiện bị hạn chế nhiều so với các đơn vị cùng ngành. Một mặt Petrolimex không thể thực hiện hoạt động M&A đối với các doanh nghiệp nhỏ lẻ do bị giới hạn bởi luật cạnh tranh; mặt khác tập đoàn phải tính toán kỹ lưỡng bài toán chi phí – lợi nhuận khi có ý định mở thêm chi nhánh mới. Dưới áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt từ đối thủ truyền thống như PV Oil, Saigon Petro hay đối thủ mới như Idemitsu, Petrolimex đã buộc phải co hẹp thị phần từ mức 54% năm 2010 về mức dưới 48% hiện tại.

Sự gia nhập ngành của doanh nghiệp nước ngoài có thể là mối đe doạ tiềm tàng ảnh hưởng đến vị thế của Petrolimex trong tương lai. Dù vậy trước mắt, ảnh hưởng từ gia nhập của doanh nghiệp nước ngoài đến thị trường được cho là không đáng kể, do các công ty trên cần thêm thời gian để xây dựng hệ thống phân phối, hệ thống vận chuyển chuyên dụng…

Hai năm vừa qua, lợi nhuận Petrolimex liên tục tăng vọt nhờ hưởng lợi từ cách tính giá bán xăng dầu trong nước. Nguyên do Tập đoàn được hưởng lợi từ Nghị định 83/2014 của Chính phủ, cho phép các doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu trong nước như Petrolimex tính giá bán theo sát giá dầu thế giới, hơn là tuân thủ các quy định của Bộ Công thương như trước đó. Một điều đáng chú ý trong cách tính giá cơ sở bán lẻ xăng dầu là giá dầu thế giới càng giảm thì biên lợi nhuận của doanh nghiệp đầu mối phân phối càng tăng, bởi lợi nhuận định mức của doanh nghiệp luôn được cố định ở mức 300 đồng/lít, không chịu chi phối bởi giá nguyên liệu đầu vào. Chính vì vậy, khi sản lượng tiêu thụ trong nước tăng lên trong khi giá dầu thế giới trong xu hướng giảm, Petrolimex vẫn lãi lớn 2 năm qua. Tuy vậy, từ năm 2017, khác biệt về chính sách không còn, Petrolimex sẽ khó tạo được lợi nhuận đột biến như trước.

Tình hình vay nợ

Tình hình nợ vay của PLX đang có xu hướng giảm dần qua các năm, đặc biệt là tại thời điểm cuối năm 2016 khi doanh nghiệp chủ động cơ cấu lại nguồn bằng cách phát hành tăng vốn 8% cho cổ đông chiến lược. Theo đó, năm 2016, hệ số nợ/VCSH của tâp đoàn đã được giảm mạnh từ mức 2.55 lần trong năm 2015 xuống còn 1.34 lần. Điều này giúp Petrolimex giảm được gánh nặng về chi phí tài chính, tạo động lực giúp doanh nghiệp phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng.

Các khoản vay dài hạn chủ yếu của doanh nghiệp đến từ các công ty con.

Triển vọng

Phân phối xăng dầu là lĩnh vực kinh doanh khá ổn định và ít rủi ro thua lỗ do được Nhà nước bảo trợ giá đầu ra bằng quy định tính giá cơ sở; do vậy, triển vọng tăng trưởng của lĩnh vực phân phối sẽ chủ yếu phụ thuộc vào nhu cầu tiêu thụ trong nước.

Trong thời gian tới, triển vọng của lĩnh vực phân phối xăng dầu vẫn được đánh giá ở mức khả quan, sản lượng tiêu thụ nhiên liệu từ dầu mỏ (xăng, dầu, khí ga hoá lỏng) tiếp tục tăng trưởng tốt.

Nguyên nhân:

  • Triển vọng kinh tế tích cực, tốc độ tăng trưởng GPD trung bình 10 năm tiếp theo dự báo đạt 6.2%;
  • Tốc độ tăng trưởng sở hữu phương tiện giao thông cá nhân đạt mức cao (trung bình 14.4% giai đoạn 2017 – 2020) và dư địa tăng trưởng lớn đã đẩy mạnh nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu, đặc biệt là sản phẩm dùng cho ô tô như xăng và dầu diesel;
  • Nhu cầu sử dụng khí hoá lỏng làm nhiên liệu trong sinh hoạt, lĩnh vực năng lượng và nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định tới năm 2025.
  • Kinh doanh các sản phẩm hoá dầu cho triển vọng tích cực nhờ ngành nhựa đường. Theo chu kỳ 5 năm, năm 2017 Chính phủ mới sẽ bắt đầu giải ngân trở lại các dự án BOT đường bộ và các tuyến đường cao tốc, đẩy mạnh nhu cầu sử dụng sản phẩm. Bên cạnh đó, giá nguyên vật liệu đầu vào – giá dầu thế giới phục hồi nhưng dự báo vẫn ở mức thấp trong khoảng 5 năm tới, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hoá dầu.

3. PVD: Tổng CTCP Khoan & Dịch vụ Khoan Dầu khí

Tình hình kết quả kinh doanh

Năm 2016, giá dầu thô WTI ước giảm 11% so với năm 2015, xuống mức bình quân cả năm là 43.3 USD/thùng. Chương trình khoan của các nhà thầu tại Việt Nam và các nước trong khu vực đều dừng triển khai hoặc giãn tiến độ sang các năm sau chờ sự phục hồi của giá dầu. Điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của PV Drilling. Nhiều giàn khoan của PV Drilling đã hết hợp đồng và trong tình trạng chờ việc kéo dài. Bên cạnh đó, so với năm 2015 giá thuê giàn đã giảm mạnh và ở mức thấp hơn cả chi phí vận hành của PV Drilling. Không những thế, giá các dịch vụ liên quan đến khoan cũng giảm mạnh, nhiều đơn vị của PV Drilling gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, một số đơn vị thành viên đã bị thua lỗ ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận của PV Drilling trong năm 2016.

Kết quả kinh doanh năm 2016, Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí chỉ đạt 5,360 tỷ đồng doanh thu thuần, giảm đến 63% so với cùng kỳ năm trước và vượt 9.1% kế hoạch kinh doanh cơ sở. Tính trung bình cả năm, số lượng bình quân các giàn khoan sở hữu hoạt động chỉ đạt 2.5 giàn so với 4.7 giàn trong năm 2015. Bên cạnh đó, số lượng bình quân các giàn khoan thuê hoạt động trong năm 2016 giảm xuống chỉ còn 0.24 giàn so với trung bình 2.7 giàn cùng kỳ năm trước. Giá cho thuê giàn trong năm cũng giảm đến 48% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến tương tự, khối lượng công việc của các dịch vụ kỹ thuật liên quan đến khoan trong năm 2016 giảm từ 50-70%; đơn giá các dịch vụ này cũng giảm từ 20-30% so với năm 2015.

Lợi nhuận gộp trong kỳ chỉ đạt 836.3 tỷ đồng, giảm 75.1% theo năm và ghi nhận tỉ suất lợi nhuận gộp 15.2 % so với mức 22.1% của cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, danh thu tài chính đạt 251.2 tỷ đồng, tăng 14% chủ yếu do lãi tỷ giá cao hơn so với mức cùng kỳ. Chi phí tài chính đạt 346.8 tỷ đồng, giảm 36.6% theo năm chủ yếu là từ lỗ ngoại hối giảm 85% so với cùng kì trong khi chi phí lãi vay khá ổn định. Lợi nhuận từ công ty liên kết đạt mức 111 tỷ đồng, giảm 59% so với năm ngoái. Theo đó, lợi nhuận sau thuế và sau lợi ích cổ đông thiểu số trong năm đạt 123.3 tỷ đồng, giảm 93.2 % so với năm ngoái.

Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm

Kết thúc 6 tháng đầu năm 2017, PVD ghi nhận kết quả kinh doanh không mấy khả quan khi doanh thu thuần chỉ đạt 1,448 tỷ đồng, giảm gần 57% so với cùng kỳ 2016 và ghi nhận lỗ ròng 273.3 tỷ đồng (cùng kỳ 2016 lãi sau thuế 116.3 tỷ đồng). Nguyên nhân chủ yếu là do giàn khoan tiếp trợ PVD V không hề hoạt động trong 6 tháng đầu năm trong khi đơn giá cho thuê giàn tự nâng (JU) giảm trên 40% yoy. Ngoài ra, khối lượng và đơn giá các dịch vụ khác như kỹ thuật giếng khoan, dịch vụ cung ứng cũng đồng thời sụt giảm gần 37% so với cùng kỳ năm trước. Trong kỳ, PVD cũng trích lập dự phòng nợ khó đòi trong 6T/2017 là 127.22 tỷ đồng (cùng kỳ năm trước trích lập 73.68 tỷ đồng), tăng 72.3%.

Đơn vị tính: tỷ đồng

Tình hình nợ vay

Mặc dù gặp nhiều khó khăn do giá dầu suy giảm, nhưng các chỉ số tài chính như hệ số Nợ/Tổng tài sản và hệ số Nợ/Vốn chủ sở hữu của PV Drilling vẫn được kiểm soát ở mức an toàn. Năm 2016, PV Drilling chỉ thực hiện đầu tư các thiết bị chuyên ngành khoan với số tiền giải ngân rất nhỏ và đồng thời trì hoãn triển khai các dự án đầu tư mua sắm không thực sự cần thiết nên không phát sinh thêm khoản vay mới. Các hạng mục đầu tư mới đều được rà soát kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, PV Drilling cũng đã hoàn tất trả nợ vay của một số hợp đồng vay vốn đầu tư giàn PV DRILLING V (TAD). Điều này đã giúp cho hệ số Nợ/Tổng tài sản giảm 0.05 lần và hệ số Nợ/Vốn chủ sở hữu giảm 0.15 lần so với năm 2015.

Đơn vị tính: tỷ đồng

So với các công ty cùng ngành, có thể nói chỉ tiêu Nợ/Vốn đã được PV Drilling kiểm soát chặt chẽ và đưa về ngưỡng an toàn. Điều này giúp cho PV Drilling vượt qua giai đoạn khó khăn, duy trì được khả năng trả nợ trong giai đoạn khó khăn của ngành dầu khí.

Thuận lợi

PV Drilling luôn nhận được sự chỉ đạo và hỗ trợ kịp thời từ phía Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong việc tăng cường hỗ trợ cung cấp dịch vụ trong ngành cho các hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí.

PV Drilling có đội giàn khoan hiện đại, các thiết bị chuyên ngành kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu của các nhà thầu dầu khí.

Đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật giàu kinh nghiệm, CBCNV của PV Drilling hầu hết đều trẻ có chuyên môn cao và nhiệt tình với công việc.

PV Drilling có các đối tác chiến lược là các Tập đoàn/Công ty mạnh trong nước và quốc tế. Đây là một trong những lợi thế quan trọng để PV Drilling tìm kiếm được cơ hội đầu tư cũng như sự hỗ trợ hiệu quả trong chiến lược phát triển của đơn vị.

Khó khăn

Tình hình cung cấp giàn khoan cũng như các dịch vụ liên quan đến khoan ngày càng cạnh tranh gay gắt. Các đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành với dày dạn kinh nghiệm quốc tế, tài chính mạnh đã tạo nhiều khó khăn cho PV Drilling trong việc gia tăng thị phần trong nước, nhất là cạnh tranh về giá.

Công tác phát triển dịch vụ ra nước ngoài gặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh cao của các công ty đa quốc gia và nội địa, các rào cản về bảo hộ mậu dịch, thương mại, thuế quan, văn hóa của các nước sở tại.

Triển vọng

Tình hình cho thuê giàn khoan trong khu vực Asean có dấu hiệu cải thiện. Hiện tại, mặc dù hiệu suất hoạt động của giàn khoan Jackup tại khu vực Đông Nam Á tăng mạnh từ mức đáy là khoảng 30% cuối Q4/2016 lên mức 70% vào giữa Q3/2017 nhưng giá cho thuê giàn khoan vẫn ở mức đáy là khoảng 50,000-55,000USD/ngày.  Điều này kỳ vọng giá cho thuê giàn khoan sẽ khả quan hơn trong thời gian tới. Tuy nhiên, giá cho thuê giàn khoan thường có độ trễ so với giá dầu khoảng 1-2 năm để có thời gian phục hồi tương ứng với tình hình phục hồi của giá dầu. Do đó, giá cho thuê giàn khoan trong nước và tại một số thị trường trong khu vực mà PVD đang hoạt động như Thái Lan và Myanmar kỳ vọng sẽ phục hồi trong 2-3 năm tiếp theo.

PVD có thể phải trích lập thêm dự phòng nợ phải thu ngắn hạn của khách hàng vào cuối năm 2017. Các khoản nợ phải thu ngắn hạn của PVEP tính đến cuối Q2/2017 là khoảng 503.82 tỷ đồng, trong đó đã trích lập dự phòng 297.46 tỷđồng (6T/2017 trích lập 124.65 tỷ đồng). Tỷ lệ trích lập hiện tại đạt 59% (tỷ lệ trích lập đầu năm đạt 34%). Như vậy, các khoản phải thu ngắn hạn đối với PVEP đã quá hạn trên 1 năm và nếu tình hình không được cải thiện thì PVD sẽ phải tiếp tục trích lập dự phòng đối với khoản công nợ này trong các năm sắp tới.

Hoàn nhập quỹ phát triển khoa học và công nghệ là cứu cánh cho KQKD trong các năm tới. PVD sẽ tiến hành trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ từ cuối năm 2020. Tính đến ngày 31/12/2016, PVD đã trích lập tổng cộng 1,121 tỷ đồng và số tiền sử dụng lũy kế là 96.2 tỷ đồng. Theo quy định, nếu không được sử dụng thì sau 5 năm phần quỹ còn lại bắt buộc phải hoàn nhập dự phòng. Như vậy, số tiền mà PVD phải hoàn nhập năm 2017 tương ứng với số tiền đã trích lập còn lại chưa được sử dụng của năm 2012 là khoảng 180 tỷ đồng.

Giàn khoan TAD khó có thể hoạt động trở lại đến cuối năm 2018. Cá Rồng Đỏ, dự án duy nhất có thể sẽ sử dụng giàn khoan TAD, dự kiến sẽ bắt đầu khoan vào cuối năm 2018. Vì vậy, giàn khoan này nhiều khả năng sẽ không hoạt động trong hơn 1 năm, khiến triển vọng lợi nhuận 2018 tiếp tục kém khả quan. Tuy nhiên, PVD có thể vượt qua 2 năm với số dư tiền mặt hiện nay.

Trong 2 năm tới, việc quản lý dòng tiền là ưu tiên hàng đầu của công ty. Mặt tích cực là vào cuối Quý 1/2017, công ty nắm giữ đến 173 triệu USD tiền mặt, nên có thể giúp PVD dùy trì trong 2 năm tới

4. PVS: Tổng CTCP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam

Tình hình kết quả kinh doanh

Doanh thu và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ của PVS ghi nhận lần lượt 18,682 tỷ đồng (-20% YoY) và 1,039 tỷ đồng (-32% YoY). Kết quả kinh doanh giảm mạnh do ảnh hưởng từ giá dầu thô thế giới, đạt bình quân chỉ 45 USD/thùng (năm 2016) thay vì giá dự kiến công ty giả định ở mức 60 USD/thùng. Do vậy, đơn giá các hợp đồng xây lắp đã phải điều chỉnh hạ, kéo biên lợi nhuận chung 2016 giảm từ mức 9.3% trong năm 2015 xuống còn 4.2%.

Trong quý 4/2016, mảng cơ khí dầu khí phải ghi nhận lỗ với biên gộp là -3.0%. Ngoài ra, các mảng hoạt động khác của PVS đều chung tình cảnh ảm đạm về nhu cầu, đặc biệt phải kể đến mảng tàu dịch vụ (-53% YoY) và cảng biển (-33% YoY). Mảng tàu khảo sát tiếp tục ghi nhận lỗ lớn với -249 tỷ đồng do không có nhiều hợp đồng thuê cũng như chi phí khấu hao và bảo trì cao.

Kết quả toàn Tổng công ty năm 2016 (tỷ đồng)

Kết quả Công ty mẹ năm 2016 (tỷ đồng)

Nửa đầu năm 2017, PVS đạt 7,746 tỷ đồng doanh thu thuần (-15,3% YoY); lãi sau thuế 649.7 tỷ đồng (-5,6% YoY). Yếu tố cải thiện biên lợi nhuận chủ yếu đến từ:

  • Sự gia tăng các hoạt động sản xuất kinh doanh của dịch vụ cơ khí hàng hải;
  • Dịch vụ khảo sát địa chấn (2D, 3D);
  • Dịch vụ lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng công trình dầu khí biển tăng;
  • Thực hiện hoàn nhập các khoản dự phòng theo quy định.

Lường trước những khó khăn thách thức sẽ phải đối mặt trong năm 2017, Tổng công ty đã phê duyệt mục tiêu kinh doanh ở mức thấp so với năm 2016. Kế hoạch doanh thu hợp nhất, lợi nhuận trước thuế lần lượt là 13,000 tỷ và 700 tỷ đồng với chỉ tiêu lãi ròng chỉ 560 tỷ đồng, giảm mạnh tới 42% (các chỉ tiêu này dựa trên giả định giá dầu 2017 đạt mức 50 USD/thùng). Kết quả, luỹ kế 6 tháng đầu năm 2017, PVS đạt doanh thu thuần 7,746 tỷ đồng (-15% YoY), lợi nhuận sau thuế đạt 650 tỷ đồng (-6% YoY), thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) 6 tháng đạt 1,204 đồng. Như vậy, dù kết quả thực hiện kém hơn cùng kỳ, công ty đã hoàn thành vượt 16% chỉ tiêu đề ra cho năm 2017.

Thuận lợi

Hướng tới kế hoạch 5 năm 2016-2020 và định hướng chiến lược phát triển đến năm 2035 sẽ phát triển thành tổng công ty hàng đầu trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao của khu vực, PVS đã đẩy mạnh đầu tư đổi mới nguồn lực cơ sở vật chất, phương tiện thiết bị, đầu tư có trọng điểm vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Qua đó, với uy tín và năng lực đã được kiểm chứng, PVS có khả năng tiếp tục được giao thực hiện nhiều hợp đồng, gói thầu dịch vụ có giá trị giai đoạn 2017-2018 và những năm tiếp theo như: cung cấp tàu cho Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, cung cấp FPSO Cá Rồng Đỏ, cung cấp dịch vụ căn cứ Cảng dịch vụ dầu khí tổng hợp Phú Quốc, cung cấp các dịch vụ cơ khí chế tạo các dự án: Cá Rồng Đỏ, Sao Vàng Đại Nguyệt…

Hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ kỹ thuật, PVS thuộc nhóm doanh nghiệp bị tác động mạnh nhất của biến động giá dầu so với các doanh nghiệp trong ngành. Tuy vậy, nhờ áp dụng chiến lược phát triển rõ ràng, khả thi, trên cơ sở vững chắc, Tổng công ty đã “chống đỡ” khá hiệu quả trước biến động của giá dầu trong thời gian qua. Cụ thể, PVS tận dụng tối đa lợi thế từ mô hình kinh doanh đa dạng để chuyển hướng, đẩy mạnh thi công các dự án trên bờ, liên kết thầu với nhà thầu nước ngoài nhằm giải quyết những hạn chế về năng lực thi công và thu về những kết quả nhất định, dù biên lợi nhuận của các dự án trên bờ còn thấp so với các công trình trên biển.

Khó khăn

PVS có hoạt động kinh doanh cốt lõi gắn liền các dự án (cơ khí, xây lắp, bọc ống). Những khó khăn lớn nhất mà PVS gặp phải trong thời gian này là:

  • Triển vọng kém quả quan của giá dầu Thế giới;
  • Trích lập dự phòng các khoản phải thu (đặc biệt là khoản phải thu tăng khoảng 600 tỷ trong năm 2016 của Cửu Long JOC hay 800 tỷ đồng phải thu từ Lam Sơn và Biển Đông POC);
  • Tiến độ triển khai chậm các dự án của Tập đoàn PVN hay Chính phủ do gặp khó về vốn đầu tư.

PVS cũng gặp rất nhiều khó khăn ở các mảng kinh doanh khác. Mảng dịch vụ cung ứng tàu chứa và xử lý dầu thô FSO/FPSO, PVS phải chấp nhận đàm phán lại giá với mức phí thấp hơn và gia hạn thanh toán cho các khách hàng gặp khó khăn. Mảng khảo sát địa chấn ROV và tàu dịch vụ chuyên dụng OSV cũng khó kỳ vọng thoát khỏi mức lợi nhuận âm do nhu cầu khảo sát giảm mạnh, Công ty phải áp dụng các biện pháp cắt giảm chi phí, sử dụng kỹ sư người Việt, thay vì người nước ngoài. Đối với lĩnh vực cảng, các cảng dịch vụ dầu khí đang bị ảnh hưởng nặng do đơn giá giảm, nhiều nhà thầu không còn thuê dịch vụ cầu cảng khi các dự án khoan, thăm dò dầu khí tạm dừng.

Tình hình vay nợ

Nợ phải trả (BCTCHN) tại thời điểm ngày 31/12/2016 của PVS là 13,789 tỷ đồng, giảm 5.31% so với năm 2015. Trong đó, nợ phải trả người bán là 4,051 tỷ đồng, nợ phải trả các tổ chức tín dụng là 1,575 tỷ đồng. Đơn vị không có nợ phải trả quá hạn. Việc thanh toán nợ phải trả được đảm bảo trên cơ sở cân đối dòng tiền.

Ngoài ra, hệ số nợ (Nợ phải trả/Tổng tài sản) trong kỳ được duy trì ổn định ở mức gần 50% trong khi hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là 1.56 lần, điều này thể hiện tình hình tài chính của PVS vẫn đang lành mạnh và an toàn.

Tiển vọng

Theo nhận định của các chuyên gia, giá dầu thô thế giới đã cho dấu hiện tạo đáy hồi đầu năm 2016 và đang trên đà phục hồi. Do có các hoạt động kinh doanh cốt lõi gắn liền với những biến động của giá dầu quốc tế, PVS được kỳ vọng sẽ cải thiện tốt biên lợi nhuận trong những năm tới một khi giá dầu tăng trưởng trở lại. Theo một diễn biến mới nhất, giá dầu thô đã tăng lên gần 16% trong quý 3/2017 bất chấp sản lượng dầu thô Mỹ tăng, đây là mức tăng cao nhất trong quý kể từ năm 2004. Kết quả trên có được là nhờ nhóm Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và Các nước Sản xuất dầu chủ chốt khác tuân thủ tốt thỏa thuận cắt giảm sản lượng. Thậm chí nhóm này hiện đang xem xét khả năng gia hạn thoả thuận sau thời điểm tháng 3/2018.

Với kết quả kinh doanh ổn định, quản trị tốt và tình hình tài chính lành mạnh, PVS thường xuyên đứng “TOP” các công ty dầu khí được nhà đầu tư đặt niềm tin. Trên thực tế, rất nhiều nhà đầu tư đang tận dụng cơ hội cổ phiếu PVS ở mức giá tốt để gom mua, với mục tiêu đầu tư dài hạn.

Hiện PVS đang có kế hoạch tăng vốn điều lệ, chuyển sàn niêm yết hơn 446 triệu cổ phiếu phổ thông từ sàn giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (sàn HNX) sang sàn giao dịch chứng khoán của Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM (sàn HOSE). Hành động này hứa hẹn sẽ giúp PVS nâng cao hình ảnh, quảng bá thương hiệu trên thị trường chứng khoán, tạo tác động tích cực đến đánh giá của nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi trong việc huy động vốn cho công tác đầu tư sản xuất kinh doanh của Tổng công ty trong thời gian tới.

5. PGS: CTCP Kinh doanh Khí Miền Nam

Tình hình kết quả kinh doanh

Cuối năm 2016, tổng doanh thu của PVGas South đạt 4,971.9 tỷ đồng và hoàn thành 119% kế hoạch doanh thu cả năm. Lợi nhuận sau thuế đạt 341.7 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần so với năm 2015.

Trong cơ cấu doanh thu thuần theo sản phẩm trên, LPG và CNG vẫn là hai mảng đóng góp chính vào tổng doanh thu của PVGas South.

Sản lượng tiêu thụ LPG tăng 18.7% nhờ chiến lược phát triển mảng bán lẻ, hoàn thành 112.8% kế hoạch năm.

Mảng kinh doanh LPG của Công ty trong năm 2016 tăng trưởng ấn tượng về sản lượng tiêu thụ với 279,820 tấn, đạt 112.8% kế hoạch và tăng 18.7% so với 2015; giúp doanh thu mảng LPG đạt 4,201.5 tỷ đồng. Trong đó:

  • Sản lượng LPG bình ước đạt 164,491 tấn, đạt 104.3% kế hoạch và tăng trưởng 6% so với năm 2015.
  • Sản lượng LPG rời ước đạt 115,129 tấn, đạt 127.9% kế hoạch và tăng đến 43.6% so với năm 2015.

Sản lượng tiêu thụ CNG tăng trưởng tích cực 18.6% so với năm 2015

Năm 2016, sản lượng CNG tiêu thụ đạt 105.2 triệu Sm³(*), tăng trưởng mạnh 18.6% so với năm 2015 và hoàn thành 117% kế hoạch năm. Điều này có được là nhờ các giải pháp kinh doanh và phát triển thị trường đã được Công ty triển khai kịp thời và hiệu quả như:

  • Chăm sóc tốt các khách hàng hiện hữu, một số khách hàng đã gia tăng sản lượng như Tôn Nam Kim, Thép Vinaone.
  • Tìm kiếm khách hàng mới, thực hiện cấp khí cho Samsung, Nhà máy Nam Kim 3, Gạch men Shijar, Thép Nguyễn Minh, Bê tông nhựa Bình An.
  • Đẩy mạnh phát triển mạng lưới cấp khí cho các đơn vị giao thông vận tải, số lượng xe bus sử dụng CNG năm 2016 đã đạt 236 xe, tăng 97 xe so với 2015.

Theo đó, doanh thu mảng CNG trong năm 2016 đạt 809.9 tỷ đồng, đóng góp 14.1% vào doanh thu của toàn Công ty.

 (*): Sm3 (Standard cubic metre) là mét khối tại điều kiện tiêu chuẩn (nhiệt độ 15 độ C, áp suất 1 at)

Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2017

Theo báo cáo bán niên 2017, doanh thu thuần đạt 2,864 tỷ đồng, vượt 39.5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do chi phí Giá vốn hàng bán tăng, đạt 2,331 tỷ đồng, gấp gần 1.4 lần so với cùng kì, do đó khiến lợi nhuận sau thuế giảm xuống 54.3 tỷ đồng, chỉ bằng 20% so với kì trước.

Tình hình tài chính

Thuận lợi

PVGas South luôn nhận được sự quan tâm và hỗ trợ từ phía Tập đoàn/Tổng Công ty trong việc đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn vốn, nguồn hàng và công nợ, kịp thời đáp ứng các yêu cầu trong hoạt động SXKD của Công ty.

Hệ thống kho, trạm chiết công suất lớn trải dài từ Miền Trung đến Miền Tây Nam Bộ tạo điều kiện giúp Công ty chủ động trong công tác tồn trữ hàng hóa và khai thác tối đa hiệu quả sử dụng kho, trạm chiết, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất kinh doanh.

Sản phẩm khí thiên nhiên nén (CNG) ngày càng được nhiều khách hàng lựa chọn là nhiên liệu thay thế hiệu quả cho các nhiên liệu truyền thống, hệ thống khách hàng đa dạng… Bên cạnh đó, đội ngũ kinh doanh, kỹ thuật và điều độ sản xuất ngày càng hoàn thiện về kinh nghiệm, đảm bảo an toàn trong sản xuất và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.

Nhà máy Bình Khí của Công ty có công nghệ sản xuất hiện đại, công suất lớn, đạt tiêu chuẩn KGS AC211 (Hàn Quốc), không những đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, sơn sửa vỏ bình trong nội bộ công ty, mà còn đủ năng lực đáp ứng nhu cầu sản xuất vỏ bình của khách hàng bên ngoài (SaigonPetro, Gia Đình Gas, Sopet…).

Bộ máy tổ chức của Công ty ngày càng hoàn thiện theo hướng tinh gọn bộ máy và cắt giảm chi phí, tập trung tái cấu trúc toàn bộ Công ty theo hướng chuyên môn hóa cao, giảm nhiều tầng quản lý trung gian.

Tập thể CBCNV đoàn kết nhất trí, quyết tâm phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch của Công ty giao.

Khó khăn

Về nguồn hàng:

  • Dù giá dầu có sự hồi phục nhất định nhưng năm 2016 vẫn là năm khó khăn khi giá LPG thế giới có nhiều biến động, với mức giá trung bình năm chỉ đạt 339.6 USD/tấn, bằng 79.6% so với bình quân năm 2015.
  • Nguồn cung trên thị trường dồi dào, hàng tồn kho luôn ở mức cao nên các đơn vị kinh doanh LPG thường xuyên giảm giá bán để tránh tồn, cắt lỗ, gây ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
  • Giá khí đầu vào để sản xuất CNG liên tục tăng trong khi việc đàm phán tăng giá bán cho khách hàng rất khó khăn.
  • Giá các loại nguyên vật liệu sản xuất bình khí tăng, trong đó thép cán nóng biến động rất lớn, giá đầu vào tăng khoảng 60% so với với đầu năm.

Hệ thống kho, trạm chiết và cơ sở kinh doanh:

  • Hầu hết các trạm nạp LPG có công nghệ bán thủ công, chưa hiện đại (chỉ có trạm Cần Thơ và trạm VT Gas Đồng Nai có dàn chiết nạp Carousel tự động)
  • Việc thuê chiết nạp bên ngoài tiềm ẩn nhiều rủi ro như: việc quản lý chất lượng, khối lượng hàng chiết nạp gặp nhiều khó khăn, xảy ra các hiện tượng chiết nạp trái phép gây ảnh hưởng lớn đến uy tín và thương hiệu PetroVietnam Gas.
  • Hệ thống máy nén khí tại các trạm mẹ, hệ thống trạm giảm áp (PRU) tại các trạm của khách hàng phần lớn đã sử dụng qua một thời gian dài nên tốn kém chi phí bảo dưỡng.

Về thị trường:

– Thị trường LPG

  • Thị trường LPG dân dụng biến động mạnh, các hãng gas liên tục đưa ra các chương trình hỗ trợ, giảm giá cho khách hàng.
  • Một số thương hiệu nhỏ lẻ xâm nhập sau vào thị trường đã đưa các chương trình khuyến mãi, chào bán với giá rất thấp
  • Hệ thống phân phối còn bị lệ thuộc nhiều vào các tổng đại lý/đại lý, sản lượng phân phối qua các cửa hàng bán lẻ trực thuộc Công ty chưa chiếm tỷ trọng nhiều.

– Thị trường CNG

  • Hiện nay các khách hàng có nhu cầu sử dụng nhiên liệu lớn không còn nhiều, phần lớn là các khách hàng nhỏ, phân tán rộng khắp nên hiệu quả đầu tư không cao. Bên cạnh đó, giá dầu năm 2016 ở mức thấp ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận đối với từng khách hàng.

– Thị trường vỏ bình LPG

  • Lượng vỏ bình gas trên thị trường hiện nay rất lớn và gần như bão hòa, các công ty kinh doanh LPG dân dụng đều hạn chế đặt mua vỏ mới.
  • Thị trường trong nước tuy được mở rộng nhưng mức độ cạnh tranh ngày một cao do các công ty tư nhân chào giá rẻ với chất lượng thấp.

Triển vọng

Theo Reuters dự báo, nguồn cung dầu năm 2017 sẽ đạt khoảng 97.4 triệu thùng/ngày, tăng 1.33% so với nguồn cung năm 2016. Nhìn chung, kỳ vọng tăng của giá dầu trong năm nay là khá tích cực, do đó đây cũng sẽ là một năm tương đối tích cực với ngành dầu khí Việt Nam.

Giao thông công cộng thân thiện môi trường được chú trọng:

  • Mảng cấp khí CNG cho hoạt động giao thông vận tải công cộng vẫn đang là phân khúc tiềm năng của Công ty, bên cạnh mảng cấp khí cho các khách hàng công nghiệp. Sử dụng nhiên liệu sạch, thân thiện môi trường vẫn đang là ưu tiên hàng đầu khi phát triển hệ thống giao thông công cộng. Trong đó, xe buýt sử dụng nhiên liệu CNG vẫn đang được khuyến khích phát triển trong tương lai gần. Theo thống kê, hiện số lượng xe buýt sử dụng CNG trên địa bàn TP.HCM là 236 xe, thuộc các đơn vị như Liên hiệp HTX Vận tải TP.HCM, HTX 19/5, Công ty Xe khách Sài Gòn… Sở Giao thông Vận tải TP.HCM đã có đề án đổi mới 1.680 xe buýt giai đoạn 2015-2017, UBND TP.HCM đã chấp thuận chính sách hỗ trợ cho các đơn vị vận tải đổi mới xe buýt, đặc biệt là các xe buýt sử dụng CNG. Trong năm 2017, Sở này cho biết sẽ đẩy mạnh việc thay thế và số lượng xe buýt sử dụng CNG dự kiến sẽ đạt 1,000 xe.

Thị trường bất động sản năm 2017 hứa hẹn sẽ khởi sắc nhờ vào sự phát triển ổn định của nền kinh tế Việt Nam, tiềm năng từ các hiệp định thương mại tự do, quá trình đô thị hóa sẽ diễn ra nhanh chóng hơn. Triển vọng thị trường bất động sản khả quan cũng sẽ tác động tích cực gián tiếp lên nhóm khách hàng sản xuất vật liệu xây dựng của Công ty.

6. PVT: Tổng CTCP Vận tải Dầu khí

Tình hình kết quả kinh doanh

Mặc dù thị trường vận tải biển năm 2016 vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng với nỗ lực không ngừng của đội ngũ Lãnh đạo và cán bộ công nhân viên toàn Tổng công ty, PVTrans đã hoàn thành xuất sắc, vượt mức tất cả các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh được Đại hội cổ đông phê duyệt. Đáng lưu ý, kết quả sản xuất kinh doanh năm 2016 đạt mức cao kỷ lục từ trước đến nay trong 14 năm hoạt động của PVTrans.

Đơn vị tính: tỷ đồng

Doanh thu thực hiện năm 2016 của PV Trans đạt 6,936 tỷ đồng, vượt kế hoạch đề ra 39%. Doanh thu trong năm 2016 của PV Trans đến từ 3 mảng chính:

  • Dịch vụ vận tải
  • Dịch vụ cho thuê và quản lý kho nổi FSO/FPSO
  • Các dịch vụ kinh doanh thương mại, DV đại lý hàng hải và các dịch vụ hỗ trợ khác

Lợi nhuận trước thuế và sau thuế của PV Trans trong năm 2016 đạt lần lượt 602 và 483 tỷ đồng, tương ứng 172% và 173% so với kế hoạch được giao. Trong năm 2016, PV Trans nộp ngân sách Nhà nước 362 tỷ đồng, vượt 91% kế hoạch đề ra.

Dịch vụ vận tải

Vận tải vẫn đóng vai trò là mảng kinh doanh mũi nhọn của PV Trans, chiếm gần 43% tổng doanh thu năm 2016. Lợi nhuận gộp đạt 499 tỷ đồng, chiếm 65% tổng lợi nhuận.

Trong năm 2016, PV Trans tiếp tục khai thác an toàn đội tàu vận tải dầu thô, tàu sản phẩm dầu và đội tàu chở khí hóa lỏng LPG, với tổng số hơn 1,180 chuyến tàu các loại ở trong nước, trong đó:

  • 90 chuyến dầu thô đầu vào cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và các khách hàng khác với tổng khối lượng vận chuyển là 7 triệu tấn;
  • 259 chuyến dầu sản phẩm với khối lượng hơn 1.5 triệu m3;
  • 815 chuyến LPG với khối lượng gần 1.0 triệu tấn và hàng trăm ngàn tấn propylene, đạm…

PV Trans sở hữu đội tàu vận chuyển hàng lỏng lớn nhất Viêt Nam với 100% số lượng tàu chở dầu thô, 26% lượng tàu sản phẩm và 52% số lượng tàu chở khí hóa lỏng LPG. PV Trans đã sử dụng ưu thế này một cách rất hiệu quả trong năm 2016, PV Trans tiếp tục duy trì 100% thị phần vận tải dầu thô tại thị trường nội địa, 90% thị phần vận taỉ khí hóa lỏng và 30% thị phần vận tải dầu sản phẩm, 10% thị phần FSO/FPSO.

Dịch vụ cho thuê và quản lý kho nổi FSO/FPSO

Dịch vụ FSO tiếp tục được duy trì ổn định trong năm 2016, với doanh thu 663 tỷ đồng, chiếm 10% tổng doanh thu của PV Trans. Lợi nhuận gộp đạt 179 tỷ đồng, chiếm 24% tổng lợi nhuận. PV Trans vận hành ổn định, an toàn tàu FSO PVN Đại Hùng Queen tại mỏ Đại Hùng, góp phần vào hoạt động khai thác an toàn và ổn định của mỏ với sản lượng khai thác tại mỏ này khoảng gần 11,000 thùng/ngày với tỷ lệ uptime 100%.

Đối với việc quản lý vận hành tàu FPSO Lewek Emas tại Mỏ Chim Sáo, PV Trans tiếp tục duy trì số lượng nhân sự vận hành trên tàu, cũng như quản lý trên bờ với 99% người Việt Nam do PV Trans cung cấp, điều hành. Hiện tàu đang khai thác sản lượng dầu khá lớn khoảng 22,700 thùng/ngày. Dịch vụ O&M tàu FPSO Lewek Emas luôn được khách hàng đánh giá cao đối với năng lực quản lý vận hành O&M của PV Trans.

Các dịch vụ kinh doanh thương mại, đại lí hàng hải và các dịch vụ hỗ trợ khác

Trong năm 2016, PV Trans đã tích cực xây dựng phát triển và mở rộng các dịch vụ hàng hải, kinh doanh thương mại, cung cấp vật tư thiết bị hàng hải, dầu khí, các hợp đồng kinh doanh cung cấp LPG, xăng dầu, phân đạm… để tạo nguồn thu và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

PV Trans hiện đảm nhận phần lớn công tác đại lý hàng hải cho các tàu dầu thô và sản phẩm dầu cho đội tàu PV Trans và tàu ngoài tại Dung Quất và Vũng Tàu. PV Trans cũng đã và đang cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng rời, đạm, propylene, các hóa phẩm… cho các đơn vị trong ngành.

Theo đó, những mảng kinh doanh này mang lại cho PV Trans doanh thu 3,201 tỷ đồng với lợi nhuận gộp đạt 84 tỷ đồng, chiếm 11% tổng lợi nhuận.

Kết quả kinh doanh 06 tháng đầu năm 2017

Doanh thu thuần 6 tháng đầu năm đạt 3,022.4 tỷ đồng, giảm 7.4% so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, Lợi nhuận sau thuế cũng giảm xuống 194.2 tỷ đồng, giảm 21% so với cùng kỳ.

Tình hình tài chính

Năm 2016, PV Trans tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh và quản lý tài chính hiệu quả. Các chỉ số tài chính trọng yếu đều năm ở mức an toàn, trong đó một số chỉ tiêu tăng trưởng tốt trong năm 2016.

Khả năng thanh khoản cải thiện:

Chỉ tiêu thanh khoản năm 2016 tăng tích cực so với 2015, cụ thể:

  • Hệ số thanh toán ngắn hạn tăng 14% so với năm 2015
  • Hệ số thanh toán nhanh tăng 14% so với năm 2015

Tỷ lệ nợ vay giảm dần

Hệ số Nợ/Tổng tài sản và Hệ số Nợ/Vốn chủ sở hữu đều giảm nhẹ so với năm 2015, mức giảm lần lượt là 6% và 13%; cho thấy cơ cấu vốn sử dụng cho sản xuất kinh doanh ổn định và ít rủi ro hơn.

Khả năng sinh lời

So với năm 2015, cả hai chỉ tiêu ROA và ROE đều có biến động tích cực:

  • ROA tăng 19% so với năm 2015
  • ROE tăng 11% so với năm 2015 Qua 3 năm từ 2014, ROA giữ vững xu hướng tăng đều qua các năm.

Riêng ROE có giảm nhẹ năm 2015 do cả hai chỉ tiêu: lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu đều tăng, nhưng vốn chủ sở hữu có mức tăng nhanh hơn.

Thuận lợi

Thị trường vận tải biển trong nước và quốc tế năm 2016 dù còn nhiều khó khăn chung nhưng vẫn có những thuận lợi nhất định đối với PV Trans. Là đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, PV Trans luôn nhận được sự quan tâm hỗ trợ về mọi mặt từ Tập đoàn và sự hợp tác, phối hợp chặt chẽ của các đơn vị thành viên trong Tập đoàn, đặc biệt là các đơn vị như Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn, PVOil, VSP, PVEP, PVGas…

Việc đối tác chiến lược là nhà máy Lọc dầu Dung Quất hoạt động liên tục cũng như nhu cầu tiêu thụ LPG tại thị trường nội địa tăng trưởng bình quân 10%/năm giúp đội tàu của PV Trans khai thác ổn định, an toàn và hiệu quả tại thị trường nội địa. Bên cạnh đó, thị trường vận tải quốc tế 6 tháng đầu năm 2016 hoạt động tốt, nên dù giá cước sụt giảm mạnh từ quý IV/2016, hiệu quả khai thác trung bình của đội tàu tại các thị trường quốc tế vẫn đạt ở mức tốt.

Công tác tái cơ cấu và công tác quản trị được triển khai mạnh mẽ và quyết liệt giúp mang lại nhiều chuyển biến tích cực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của PV Trans. Công tác kiểm tra, giám sát luôn được thực hiện tốt, giúp kịp thời phát hiện, phòng ngừa các rủi ro và ngăn ngừa các tiêu cực. Cổ phiếu PV Trans là một trong những cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng tốt và tính thanh khoản cao trên thị trường chứng khoán nên đây sẽ là một kênh hiệu quả trong công tác huy động vốn của PV Trans.

Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi, PV Trans cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Trước hết là việc giá dầu thô đang duy trì ở mức thấp khiến ngành dầu khí nói chung gặp rất nhiều khó khăn và tác động lớn đến các thị trường dịch vụ của PV Trans.

Các khách hàng chính liên tục cắt giảm chi phí, ngân sách, dịch vụ làm ảnh hưởng đến hoạt động của PV Trans cả về nhu cầu công việc và đơn giá dịch vụ.

Trong năm 2016, PV Oil áp dụng chính sách giảm lượng tồn kho dầu sản phẩm khi giá nhiên liệu biến động phức tạp đã ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của đội tàu sản phẩm của PV Trans. Về mặt tài sản, đội tàu của PV Trans ngày càng nhiều tuổi, chi phí hoạt động ngày càng tăng cũng gây áp lực tiêu cực tới năng lực cạnh tranh của PV Trans. Đây là điều đáng lo ngại trước tình hình cạnh tranh từ các đối thủ ngày càng lớn, cả trên thị trường trong nước và quốc tế.

Các thủ tục đầu tư tàu trong năm 2016 của PV Trans lại vướng phải một số khó khăn, đặc biệt là việc lựa chọn giữa phương án đóng mới và mua tàu. Tiến độ đầu tư cũng bị ảnh hưởng do thời hạn hoạt động của một số dự án vẫn chưa rõ ràng.

Triển vọng

Với những thành công ấn tượng năm 2016, PV Trans đã tạo ra được tiền đề vững chắc cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ 2017-2020, trong đó PV Trans đặt ra mục tiêu tiếp tục giữ vững vị trí là Công ty vận tải và dịch vụ hàng hải dầu khí đa sở hữu lớn nhất Việt Nam, đồng thời xây dựng phát triển thành thương hiệu vận tải mạnh trong khu vực.

Dự báo trong những năm tới, ngành dầu khí và ngành vận tải biển tiếp tục đối diện nhiều khó khăn do ảnh hưởng của giá dầu thô suy giảm và suy thoái kinh tế. Là công ty hoạt động trong lĩnh vực vận tải dầu khí, PV Trans sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, coi khó khăn là cơ hội, PV Trans cũng đã đánh giá đầy đủ các cơ hội, nguy cơ để vượt qua khó khăn và tranh thủ các cơ hội phát triển. Định hướng trong thời gian tới, PVTrans sẽ tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng thị trường cung cấp dịch vụ vận tải dầu thô, sản phẩm dầu cho Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn; dịch vụ vận tải than cho các nhà máy điện than Thái Bình 1, Thái Bình 2, Long Phú, Sông Hậu và các nhà máy điện than khác của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Tiếp tục duy trì và mở rộng thị phần vận tải quốc tế, đặc biệt là vận tải LPG, vận tải xăng dầu nhằm khai thác tối đa hiệu suất đội tàu.

Do dự báo thị trường vận tải tiếp tục khó khăn nên giá tàu khá hợp lý, đây sẽ là cơ hội và thời điểm để PV Trans đẩy mạnh công tác đầu tư, một mặt đổi mới và trẻ hóa đội tàu, thay thế các tàu đã cũ, mặt khác bổ sung thêm các tàu mới nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường. Dự kiến số lượng tàu đầu tư mới của PV Trans và các đơn vị thành viên thời gian tới là rất lớn nên cũng đòi hỏi một lượng vốn lớn. Do đó, để đáp ứng yêu cầu của công tác đầu tư, PV Trans sẽ kết hợp giữa tận dụng nguồn lực hiện có với việc hợp tác với các chủ tàu trong và ngoài nước, vay vốn, huy động vốn thông qua sàn giao dịch chứng khoán để vừa chiếm lĩnh thị trường, vừa giảm thiểu rủi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Thông tin chi tiết xin mời Quý khách xem Tại đây

 

Bình luận

Bình luận