Báo cáo triển vọng Ngành Dầu khí và Năng lượng

Về Ngành Dầu khí: Theo số liệu thống kê của tập đoàn BP (tập đoàn dầu mỏ hàng đầu thế giới – nước Anh), Việt Nam là quốc gia đứng thứ 28 trên tổng số 52 nước trên thế giới có tài nguyên dầu khí. Tính đến hết năm 2013, trữ lượng dầu thô xác minh của Việt Nam vào khoảng 4.4 tỷ thùng đứng thứ nhất trong khu vực Đông Nam Á, còn lượng khí xác minh của Việt Nam vào khoảng 0.6 nghìn tỷ m3 , đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Malaysia).

Kể từ khi khai thác vào năm 1986 tại mỏ Bạch Hổ, trải qua hơn ba thập kỷ, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã có bước trưởng thành vượt bậc về mọi mặt để trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh của quốc gia.

Petrovietnam đã có một vị trí quan trọng, là một mũi nhọn trọng yếu của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, hàng năm đóng góp trung bình 20 – 30% tổng thu ngân sách Nhà nước.

Petrovietnam đã đưa Ngành Dầu khí Việt Nam có vị trí trong cộng đồng các quốc gia khai thác dầu khí trên thế giới, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đến nay, Petrovietnam đã xây dựng được hệ thống công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ từ khâu tìm kiếm thăm dò, khai thác – phát triển công nghiệp khí đến chế biến dầu khí và dịch vụ dầu khí.

Về Ngành Năng lượng: Xăng dầu là nguồn năng lượng từ dầu mỏ và là mặt hàng thiết yếu đóng vai trò quan trọng trong vấn đề an ninh năng lượng quốc gia.

Ngành Năng lượng nói chung và Petrolimex nói riêng sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong tương lai bởi việc hội nhập với các nền kinh tế thế giới lớn và mục tiêu Công nghiệp hóa, phát triển kinh tế sẽ khiến nhu cầu về nguồn năng lượng này tiếp tục tăng cao.

THÁCH THỨC

1. Rủi ro ảnh hưởng bởi đồng USD

Mặc dù trong thời gian gần đây thị trường dầu mỏ có nhiều dấu hiệu khả quan, tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều yếu tố bất ổn, đặc biệt là rủi ro bị ảnh hưởng bởi khả năng đồng USD tăng mạnh nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tiếp tục điều chỉnh lãi suất trong thời gian tới. Theo các nhà phân tích năng lượng thế giới, các chính sách kinh tế mới của Mỹ, đặc biệt là chính sách năng lượng của Chính phủ dưới thời Tổng thống Donald Trump cùng diễn biến phức tạp tại khu vực Trung Đông, nơi tập trung nhiều quốc gia sản xuất dầu lửa hàng đầu thế giới sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới giá nhiên liệu trong thời gian tới đây.

2. Rủi ro về việc tuân thủ cắt giảm sản lượng

Trong tháng 7/2017 sản lượng của OPEC tăng 173,000 thùng/ngày lên mức 32.87 triệu thùng/ngày – ngưỡng cao nhất kể từ tháng 12/2016. Nguyên nhân chủ yếu là do sản lượng khai thác của Nigeria, Libya (hai quốc gia thành viên được miễn ký thỏa thỏa thuận cắt giảm sản lượng) tăng mạnh lần lượt đạt ngưỡng 1.75 triệu thùng/ ngày và 1 triệu thùng/ ngày. Tuy nhiên, hai nước này cũng đã cam kết sẽ cân nhắc hạn chế khai thác khi sản lượng trong nước đạt 1.8 triệu thùng/ngày.

Mặt khác, trong những tháng gần đây mức độ tuân thủ hiện tại của tổ chức cung dầu giảm xuống còn 86% so với mức 96% hồi đầu năm. Con số này khiến thị trường nghi ngờ khả năng tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC. Điều này khiến nhà đầu tư e ngại về khả năng thị trường có thể tái cân bằng trở lại trong khi OPEC dự đoán nhu cầu dầu sẽ tăng trong thời gian tới.

3. Sản lượng dầu đá phiến từ Mỹ

Giá dầu tăng trở lại đồng nghĩa với việc nguồn vốn đầu tư sẽ lại đổ vào lĩnh vực này. Cụ thể, số lượng giàn khoan dầu đã tăng trở lại trong những tháng gần đây và xuất hiện dấu hiệu “âm thầm” phục hồi sản xuất trong lĩnh vực vốn bị kìm hãm thời gian qua, do giá dầu sụt giảm mạnh.

Theo IEA, các quốc gia thành viên OPEC muốn giảm sản lượng để đẩy cao giá dầu, nhưng chỉ ở mức độ nhất định. Nếu giá dầu tăng quá cao, thì các nhà sản xuất dầu đá phiến ở Mỹ có thể quay đầu đẩy mạnh khai thác. IEA nhấn mạnh, một số nhà khai thác dầu đá phiến ở Mỹ đã có những khoản đầu tư mới.

4. Sự phát triển mạnh của xe điện sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng xăng dầu

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các dòng xe điện, công nghệ hiện đại giúp tiết kiệm nhiên liệu, tăng trưởng kinh tế chậm lại và giá nhiên liệu tăng, giới chuyên gia dự báo năm 2030 hoặc thậm chí năm 2024 có thể là năm cuối cùng nhu cầu dầu mỏ lên đến đỉnh điểm.

Theo các nhà phân tích của ngân hàng Goldman Sachs, sự tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế mới nổi, dẫn đầu là Ấn Độ, có thể đẩy lùi thời hạn nhu cầu về dầu mỏ “đứng im” đến năm 2030. Tuy nhiên, nhu cầu dầu mỏ trong thập kỷ tới vẫn giảm dần do nhu cầu của ngành vận tải ngày càng ít đi.

THUẬN LỢI

1. Nhu cầu xăng dầu trong nước cũng như thế giới đang tăng lên

Tại thị trường thế giới: tăng trưởng nhu cầu dầu trong năm 2017 được nâng lên thêm 50,000 thùng/ngày lên mức 1.42 triệu thùng/ngày, chủ yếu nhờ những phát triển ngoài mong đợi từ Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD khu vực Châu Mỹ và Châu Âu trong quý 2/2017. Tổng lượng tiêu thụ toàn cầu hiện tại đang ở mức 96.77 triệu thùng/ngày. Bên cạnh đó, tăng trưởng nhu cầu cho năm 2018 cũng được dự báo nâng thêm 70,000 thùng/ngày so với báo cáo trước đó của OPEC, lên mức 1.35 triệu thùng/ngày với tổng tiêu thụ toàn cầu rơi vào khoảng 98.12 triệu thùng/ngày.

Theo số liệu mới nhất từ OPEC, tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ của các nước OECD được nâng 60,000 thùng/ngày lên mức trung bình 0.37 triệu thùng/ngày. Nhu cầu đã tăng trưởng khá mạnh trong quý 2/2017 chủ yếu ở khu vực Châu Mỹ và Châu Âu. Cụ thể:

  • OECD Châu Mỹ: Nhu cầu dầu nửa cuối năm 2017 được kỳ vọng tăng trưởng 0.23 triệu thùng/ngày so với năm 2016, tuy nhiên con số này sẽ giảm cho năm 2018 và dự báo tăng trưởng ở mức 0.19 triệu thùng/ngày. Trong đó, Mỹ và Canada là hai nước được kỳ vọng sẽ có tăng trưởng mạnh, bù đắp cho việc sụt giảm tại Mexico – quốc gia đang có thực trạng kinh tế không thực sự tốt.
  • OECD Châu Âu: Nhu cầu dầu được dự đoán sẽ tăng trưởng khoảng 0.15 triệu thùng trong năm 2017, giảm xuống mức 0.07 triệu thùng trong năm 2018. Nhu cầu trong 2 năm 2015 và 2016 đã ghi nhận sự tăng trưởng mạnh nhờ sức khỏe nền kinh tế được cải thiện dẫn tới gia tăng nhu cầu sử dụng dầu trong giao thông và các ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, biến đổi thời tiết lạnh hơn cũng là một trong nguyên nhân khiến nhu cầu tiêu thụ dầu tăng trong những tháng đầu năm 2017. Tính đến thời điểm hiện tại, nhu cầu tại hầu hết các quốc gia trong khu vực thể hiện sự tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ 2016. Kỳ vọng chung cho tăng trưởng tiêu thụ trong 2 năm tới nhìn chung tích cực, dù chậm hơn so với giai đoạn nửa đầu năm, chủ yếu do những hạn chế mang tính đặc thù của khu vực này như thuế tiêu thụ cao và nguồn nhiên liệu thay thế dồi dào.
  • OECD Châu Á Thái Bình Dương: Dự báo nhu cầu tại khu vực này sẽ giảm nhẹ 0.01 triệu thùng/ngày trong năm 2017, trong khi tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với năm 2018. Trong đó, nhu cầu tại Nhật tiếp tục ghi nhận sự sụt giảm từ đầu năm 2017 do nền kinh tế vẫn chưa có những dấu hiệu khả quan, sự cải thiện hiệu quả trong lĩnh vực giao thông cũng như nguồn nhiên liệu thay thế. Mặc dù vậy, giá dầu nhìn chung vẫn cho thấy sự tích cực tại quốc gia này. Ngược lại, Hàn quốc lại cho thấy những tín hiệu tích cực hơn về nhu cầu tiêu thụ dầu, cũng như với Australia, New Zealand hay một số nước khác.

Trung Quốc: dự báo tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ thêm 0.39 triệu thùng/ngày, cao hơn mức dự báo cho năm 2018, ở mức 0.35 triệu thùng/ngày nhờ cải thiện tại các lĩnh vực như giao thông và công nghiệp dù tăng trưởng GDP được kỳ vọng sẽ giảm nhẹ trong năm 2018.

Ngoài ra, nhu cầu tiêu thụ dầu tại các nước Châu Á, Mỹ La Tinh và Trung Đông dự báo cũng sẽ tăng nhẹ cho cả năm 2017 và năm 2018.

Tại thị trường trong nước: Hãng nghiên cứu Business Monitor International (BMI) từng đưa ra ước tính tiêu thụ xăng dầu của Việt Nam sẽ đạt tăng trưởng kép hàng năm 4.7% trong 5 năm tới và gấp 3.6 lần so với thế giới. Bên cạnh đó, một hãng chuyên về phân tích năng lượng Wood Mackenzie cũng dự báo tiêu thụ xăng dầu năm 2020 tại Việt Nam sẽ đạt 22.4 triệu tấn và năm 2025 sẽ đạt 29.9 triệu tấn. Tính ra mức tăng trưởng kép hàng năm trong 10 năm tới  của Việt Nam sẽ đạt khoảng 4.9%.

Bên cạnh đó, tiêu thụ xăng dầu Việt Nam hiện đang ở mức thấp so với khu vực. Theo số liệu Globalpetrolprices tháng 8/2016 cho biết mức tiêu thụ xăng dầu trên đầu người tại Việt Nam là 0.21 lít/ngày, chỉ bằng 67% mức tiêu thụ của các nước láng giềng như Thái Lan và Indonesia, và chưa đến 20% mức tiêu thụ của Malaysia. Ngoài ra, hiện giá xăng dầu Việt Nam thấp hơn bình quân 10% so với mức trung bình các nước ASEAN. Tất cả các yếu tố trên có thể cho thấy, tiêu thụ xăng dầu còn tiềm năng tăng trưởng rất lớn trong tương lai và là cơ hội cho các doanh nghiệp dầu khí trong nước khai thác thị trường.

2. Thoả thuận từ OPEC về cắt giảm sản lượng

Cuối năm ngoái, OPEC và một số nước xuất khẩu dầu thô khác trong đó có Nga đã ký thỏa thuận cắt giảm sản lượng 1.8 triệu thùng/ngày nhằm mục đích tái cân bằng thị trường dầu thô và đẩy giá dầu lên cao. Theo đó các nước thành viên OPEC cam kết cắt giảm khai thác 1.2 triệu thùng/ngày, còn các nước xuất khẩu dầu thô khác, trong đó có Nga, cắt giảm 600,000 thùng/ngày. Việc thực hiện thỏa thuận cắt giảm này đã giúp giá dầu phục hồi lên hơn 50 USD/thùng so với mức thấp kỷ lục dưới 30 USD/thùng hồi năm ngoái.

Thỏa thuận ban đầu chỉ kéo dài từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2017. Tuy nhiên, sau khi cuộc họp được tổ chức hồi tháng 5 kết thúc, các nước đã đồng thuận quyết định kéo dài thời hạn cắt giảm đến tháng 3/2018 nhưng vẫn giữ nguyên mức hạn ngạch 1.8 triệu thùng/ngày.

Dữ liệu sơ bộ cho thấy nguồn cung dầu thế giới đã giảm 0.41 triệu thùng trong tháng 8 so với tháng trước đó, xuống mức trung bình 96.75 triệu thùng/ngày, tăng 1.66 triệu thùng / ngày so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, nguồn cung tại các quốc gia không thuộc OPEC giảm 0.32 triệu thùng/ngày trong tháng 8, xuống mức trung bình 57.68 triệu thùng/ngày và đã được dự đoán tăng trưởng khoảng 0.68 triệu thùng/ngày trong năm 2017. Sự thay đổi chủ yếu cho tháng 8 là kết quả của việc tăng trưởng sản xuất tại Kazakhstan tăng 0.04 triệu thùng/ngày trong năm 2017 và giảm tăng trưởng nguồn cung tại Mỹ đi 0.7 triệu thùng/ngày do ảnh hưởng từ bão Harvey. Trong năm 2018, nguồn cung của các quốc gia không thuộc OPEC được điều chỉnh giảm 0.1 triệu thùng /ngày.

Trong năm 2018, nguồn cung tại các nước không thuộc OPEC (Ngoại trừ Trung Quốc, Trung Đông và một số quốc gia khác) sẽ tăng trưởng 1 triệu thùng/ngày, chủ yếu do điều chỉnh giảm tại Nga và Kazakhstan. Các quốc gia khác như Mỹ, Brazil, Canada, Anh và Cộng hòa Congo được dự đoán đóng vai trò chính cho sự tăng trưởng, đặc biệt là Mỹ – nơi có ngành công nghiệp dầu đá phiến rất phát triển và hơn nữa lại đang được tiếp sức bởi mức giá thuận lợi. Ngược lại, Trung Quốc đươc dự báo sẽ giảm nguồn cung 0.17 triệu thùng/ngày, trong khi khu vực Trung Đông và một số nước châu Á khác sẽ giảm lần lượt 0.05 triệu thùng/ngày và 0.04 triệu thùng/ngày.

3. Trữ lượng dầu của Mỹ đang có xu hướng giảm

OPEC cũng mới có nhận định thêm “Rất có thể trữ lượng dầu thô của Mỹ sẽ giảm hơn nữa do hoạt động lọc dầu của nước này đang được tăng cường”. Cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) mới đây cắt dự báo sản lượng dầu thô Mỹ trong năm 2018. Theo đó, cơ quan này dự báo rằng sản lượng khai thác của Mỹ trong năm 2018 sẽ tăng khoảng 560,000 thùng/ngày lên mức 9.91 triệu thùng/ngày. Tháng trước, EIA dự báo sản lượng khai thác của Mỹ sẽ tăng khoảng 570,000 thùng/ngày lên mức 9.9 triệu thùng/ngày.

Bên cạnh đó, EIA còn dự đoán nhu cầu dầu mỏ của Mỹ trong năm 2017 sẽ tăng khoảng 340,.000 thùng/ngày so với 310,000 thùng/ngày trước đó. Còn đối với năm 2018, nhu cầu dầu mỏ có thể tăng 330,000 thùng/ngày.

Việc trữ lượng dầu thô Mỹ giảm đồng thời dấy lên hy vọng thỏa thuận cắt giảm sản lượng sẽ giúp trữ lượng lượng dầu thô toàn cầu được tái cân bằng trở lại.

4. Tình hình khắc phục bão Harvey của Mỹ không quá xấu

Mới đây, Tổng thống Trump đã bắt tay vào quản lý các vấn đề miễn trừ để giảm bớt cơn bão Harvey ảnh hưởng đến giá nhiên liệu bán lẻ. Tác động của bão Harvey ít hơn lúc ban đầu bị lo ngại, không gây thiệt hại lớn cho cơ sở hạ tầng sản xuất ra nước ngoài và việc khởi động lại các nhà máy lọc dầu diễn ra nhanh hơn sau cơn bão Rita năm 2005. Tính đến ngày 12 tháng 9, chỉ có 734,000 thùng / ngày Công suất tinh chế bờ biển vẫn bị đóng cửa hoàn toàn, 4% tổng lượng nước Mỹ. Tuy nhiên, hai tuần ngừng hoạt động của các nhà máy lọc dầu và nhu cầu giảm đã có những tác động lớn lên cả thị trường dầu thô lẫn các sản phẩm dầu mỏ. Chênh lệch giữa Brent-WTI đã tăng lên khoảng 6 USD / thùng và giá bán lẻ xăng dầu và diesel vẫn được duy trì ở mức cao, bao gồm cả ở Florida do ảnh hưởng của sự gián đoạn hoạt động giao thông liên quan đến cơn bão Irma sau đó.

Chính quyền Trump đã thực hiện một số hành động hẹp nhằm giúp đẩy nhanh bình thường hóa cung cấp sản phẩm. Một sự hoán đổi rất nhỏ từ Dự trữ Dầu khí Chiến lược (SPR) đã được ủy quyền để giúp duy trì sự sử dụng đầy đủ tại nhà máy lọc dầu Charles Charles của Phillips 66. Không chỉ thế, Mỹ còn ban hành một số miễn giảm hẹp nhiên liệu tiêu chuẩn thông thường hay  và phép sử dụng các tàu không phải của Hoa Kỳ để vận chuyển các sản phẩm dầu mỏ đến Florida từ các cảng Hoa Kỳ khác sau cơn bão Irma. Tất cả những nỗ lực của Nhà Trắng kỳ vọng các nhà máy lọc dầu tại nước này cũng sẽ trở lại, tăng cung dầu và tạo tín hiệu tốt tác động đến giá dầu trong thời gian tới.

5. Hàng loạt dự án lớn tại Việt Nam đang được triển khai

Hàng loạt các dự án lớn tại Việt  Nam đang  trong quá tình triển khai, nhằm hỗ trợ khai thác lợi thế nguồn tài nguyên quốc gia, đảm bảo nguồn nguyên liệu phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu.

Ngoài hoạt động chính từ nhà máy lọc hóa đầu Dung Quất và Nghi Sơn hiện đang có 4 dự án dầu khí lớn được triển khai và sẽ góp phần tạo nên bước ngoạt hoạt động của ngành trong thời gian tới, bao gồm:

  • Dự án B Ô Môn, Dự án Nam Côn Sơn 2- Giai đoạn 2,
  • Dự án Cá Rồng Đỏ,
  • Dự án Cá Voi Xanh.

Trong đó, đáng chú ý nhất là dự án Lô B Ô Môn, đây là dự án lớn nhất từ trước đến nay của Viêt Nam với tổng mức chi phí đầu tư trong 20 năm lên tới khoảng 7 tỷ USD. Công trình gồm một giàn công nghệ trung tâm và 46 giàn khai thác, một giàn nhà ở, một tầu chứa condensate và khoảng 750 giếng khai thác, tổng mức khí thu hồi dự kiến khoảng 107 tỷ m3 và 12.65 triệu thùng condensate. Dự án khí Lô B – Ô Môn khi đi vào khai thác với doanh thu dự kiến sẽ đạt khoảng 47 tỷ USD, trong đó, đóng góp cho ngân sách Nhà nước khoảng 18 tỷ USD.

Với lợi thế PVN là nhà thầu lớn nhất (42.9%), các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội trong việc tìm kiếm các hợp đồng cả về thi công và khai thác lớn cho các doanh nghiệp trong ngành trong thời gian ngắn và dài hạn sắp tới

Bên cạnh đó, các dự án Nam Côn Sơn 2 – Giai đoạn 2, dự án Cá Rồng Đỏ, dự án Cá Voi Xanh dự kiến cũng sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2018 -2020 hứa hẹn  sẽ tạo thêm nhiều công việc cho các công ty trong khâu thượng nguồn như PVD, PVS …

6. Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng ngành Dầu khí & Năng lượng

Để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện chiến lược của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), nhằm đưa Tập đoàn tăng tốc phát triển trong những năm tiếp theo (tầm nhìn 2020), Chủ tịch Hội đồng Thành viên PVN Phùng Đình Thực vừa gửi báo cáo Chính phủ và bộ, ngành liên quan về nhiệm vụ các chỉ tiêu chủ yếu trong 5 lĩnh vực chính của Tập đoàn. Đó là:

  • Thăm dò,
  • Khai thác,
  • Lọc hóa dầu,
  • Công nghiệp khí, công nghiệp điện
  • Dịch vụ kỹ thuật dầu khí.

Trong các mục tiêu cụ thể thì lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí đóng vai trò quyết định. Với mục tiêu gia tăng trữ lượng đảm bảo gấp 2 lần khối lượng đã khai thác bình quân. Khai thác dầu khí với chỉ tiêu đến năm 2020 và đến năm 2030 đạt tỷ lệ tăng trưởng gấp khoảng gần 2 lần với khối lượng đang khai thác hiện tại trong nước. Ở ngoài nước, mở rộng đầu tư tại 3 trung tâm là Nga và SNG; Nam Mỹ và Bắc Phi.

7. Giá dầu đang trên đà tăng trưởng (Trung và Dài hạn)

Tính đến ngày 29/09/2017 giá dầu đang giao dịch trên thị trường thế giới có nhiều dấu hiệu lạc quan, Chúng tôi phân tích cụ thể diễn biến giá dầu Brent Oil và Crude Oil WTI để Nhà đầu tư có cái nhìn rõ ràng hơn:

  • Giá dầu Brent đã phá vỡ xu thế giảm và chính thức bước vào xu thế tăng trung hạn. Hiện Brent Oil đang kiểm chứng lại vùng hỗ trợ 57 – 58 USD nhưng theo Chúng tôi đánh giá nhiều khả năng vùng hỗ trợ này sẽ phản ứng tốt và có thể trở thành nền giá mới để Brent Oil hướng đến mục tiêu 70 – 75 USD.
  • Giá dầu Crude WTI hiện đang chạm cản chéo trung hạn, tuy nhiên việc giá dầu Brent đã bứt phá trước có thể là yếu tố tác động tích cực cho việc bứt phá của giá dầu Crude WTI.

Chúng tôi cũng khá lạc quan với diễn biến giá dầu Crude WTI và đánh giá việc bứt phá có khả năng thành công cao để hướng đến mục tiêu 60 – 65 USD.

  • Chú thích:

Dầu Brent: Khoảng 2/3 hợp đồng dầu thô trên thế giới hiện nay được giao dịch theo giá dầu Brent và đây cũng là loại dầu được công nhận là tiêu chuẩn giá cho các hợp đồng toàn cầu.

Dầu WTI: trong các hợp đồng kỳ hạn ám chỉ loại dầu thô được khai thác tại Mỹ, vùng phía Tây bang Texas và được vận chuyển đến vùng Oklahoma. Thông thường WTI có giá cao hơn Brent, một phần vì chất lượng WTI tốt hơn, một phần vì Brent phải bị chiết khấu chi phí vận chuyển từ châu Âu sang Mỹ (thị trường tiêu thụ dầu thô lớn nhất thế giới). Tuy nhiên từ tháng 12/2008 giá Brent đã vượt lên giá WTI, thường cao hơn trên $10/thùng.

MỘT SỐ DOANH NGHIỆP NỔI BẬT

1. GAS: Tổng công ty cổ phần Khí Việt Nam

Tình hình kết quả kinh doanh

Năm 2016, doanh thu và lợi nhuận của PV GAS đều sụt giảm so với năm 2015 do ảnh hưởng từ giá dầu giảm sâu và duy trì ở mức thấp. Lường trước được những khó khăn, ngay từ đầu năm, PV GAS đã chủ động thực hiện quyết liệt đồng bộ các giải pháp, khắc phục các thách thức, vận hành an toàn hệ thống công trình khí và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh mà ĐHCĐ đã đề ra.

Kết thúc năm 2016, GAS ghi nhận doanh thu đạt 59,326 tỷ đồng (-8% yoy) và lợi nhuận sau thuế đạt 7,172 tỷ đồng (-19% yoy), lần lượt vượt 107% và 139% so với kế hoạch đặt ra. Trong đó:

  • Hoạt động kinh doanh khí khô là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn doanh thu (59%). Năm 2016, với khó khăn đến từ giá dầu giảm mạnh đã tác động đến giá bán khí cho khách hàng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của PV GAS. Tổng sản lượng khí cung cấp cho các khách hàng là 10,301 triệu m3, hoàn thành 107% kế hoạch năm, trong đó khách hàng điện chiếm tỷ trọng 82% sản lượng khí tiêu thụ, đạm 10%, khách hàng công nghiệp khác 8%.
  • LPG: Năm 2016 PV GAS đã hoàn thành kế hoạch sản lượng ở mức cao và hiệu quả với việc cung cấp ra thị trường 1,352 nghìn tấn LPG. Với lợi thế về cơ sở vật chất, nguồn hàng, đội ngũ nhân viên và đối tác kinh doanh LPG giúp PV GAS tiếp tục giữ vững vị trí là nhà sản xuất và kinh doanh LPG số 1 tại thị trường Việt Nam và là doanh nghiệp duy nhất tại Việt Nam có khả năng nhập khẩu LPG lạnh từ Trung Đông.
  • Hoạt động vận chuyển khí chiếm 8% doanh thu nhưng lại chiếm đến 28% lợi nhuận gộp của PV GAS nhờ biên lợi nhuận vượt trội từ 3 đường ống Nam Côn Sơn 1 và PM3-CAA.

Kết quả 6 tháng đầu năm 2017

Tổng Công ty cổ phần Khí Việt Nam (GAS) đã công bố KQKD chính thức 6 tháng 2017 với doanh thu tăng 9.7% đạt 32 nghìn tỷ đồng. Diễn biến KQKD khả quan này chủ yếu do sự phục hồi của giá dầu thô khi sản lượng giảm 7.6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nửa đầu năm, lợi nhuận gộp GAS đã đạt 6,524 tỷ đồng (tăng 32% so với cùng kỳ) tương ứng với tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 20% (cùng kỳ là 16.6%). Trong đó, đóng góp lớn nhất đến từ mảng khí tự nhiên khi tăng trưởng tỷ suất lợi nhuận gộp khoảng 21.5% (+4% yoy). Theo đó, LNST đạt 3,900 tỷ đồng, tăng 33.7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Thuận lợi

Tổng Công ty khí Việt Nam (GAS) có vị trí thống lĩnh trong thị trường Việt Nam và không có đối thủ trực tiếp khi là đơn vị duy nhất được phép khai thác, nhập khẩu và phân phối khí tự nhiên tại Việt Nam.

Hiện nay, khoảng 85% nhu cầu khí thiên nhiên tại Việt Nam xuất phát từ ngành Điện, 10% từ sản xuất Phân bón và 5% còn lại từ các khách hàng công nghiệp.

Về mặt cơ bản, GAS là một trong những doanh nghiệp thực hiện quản trị tốt và tình hình tài chính lành mạnh, lượng tiền mặt dồi dào, không có rủi ro về thanh khoản.

Ngoài ra, tất cả hệ thống đường ống tại Việt Nam đều thuộc quyền kiểm soát của PV-Gas, do đó dòng tiền ổn định hơn và sự phụ thuộc vào giá thế giới được giảm nhẹ. 

Khó khăn

Hoạt động kinh doanh của GAS dựa trên tài nguyên thiên nhiên, và tài nguyên sẽ cạn kiệt sau một thời gian khai thác nhất định, chính vì thế đòi hỏi doanh nghiệp phải có các chiến lược kinh doanh hợp lý, duy trì hoạt động ổn định và mở rộng quy mô.

Hoạt động đầu tư khai thác, vận chuyển khí là hoạt động đòi hỏi vốn đầu tư đầu vào lớn, chính vì thế doanh nghiệp dễ gặp các vấn đề về rủi ro về tỷ giá và rủi ro thanh toán.

Ngoài ra, GAS hiện có nhiều hệ thống khí đưa vào hoạt động đã lâu, chi phí bảo dưỡng sửa chữa ngày một lớn. Bên cạnh đó, một số mỏ/lô/giàn thuộc bốn hệ thống khí hoạt động không ổn định, thời gian dừng/giảm cấp khí để thực hiện bảo dưỡng sửa chữa/khắc phục sự cố/thay thế thiết bị kéo dài gây khó khăn và bị động trong công tác điều độ khí.

Tình hình vay nợ

Tính đến hết ngày 31/12/2016, nợ phải trả của GAS đạt mức 15,910 tỷ đồng chiếm 28% tổng nguồn vốn, chủ yếu là nợ ngắn hạn. Chỉ số nợ vay trên vốn chủ sở hữu hiện chỉ ở mức 0.18 lần. Việc sử dụng nợ vay thấp giúp GAS giảm bớt rủi ro về chi phí lãi vay và áp lực trả nợ gốc. Bên cạnh đó, chỉ số nợ vay/vốn chủ sở hữu thấp cũng thể hiện khả năng dễ dàng huy động vốn vay trong tương lai cho các dự án đầu tư của PV GAS khi cần thiết.

So với năm 2015, tỷ lệ nợ phải trả/tổng nguồn vốn đã tăng lên 15% chủ yếu do PVGAS gia tăng vay dài hạn để tiếp tục đầu tư cho 2 dự án lớn là đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn 2 – Giai đoạn 1 và Dự án Nhà máy xử lý khí Cà Mau.

Trong đó, nợ vay của doanh nghiệp được quản lý tốt khi duy trì ở mức 35-40% tổng nợ phải trả. Tính đến ngày 31/12/2016, các khoản nợ vay chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm:

  • NH Cathay United Bank là 4,248 tỷ đồng ;
  • NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội là 1,424 tỷ đồng;
  • NH TMCP Đông Nam Á là 673 tỷ đồng ;
  • NH TMCP Công thương Việt Nam là 90 tỷ đồng.

Triển vọng

Triển vọng dài hạn của GAS đến từ các dự án lớn đang được đầu tư và sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2017-2019. Mới đây vào cuối tháng 6, hệ thống đường ống PM3 Cà Mau đã đi vào hoạt động, qua đó làm gia tăng sản lượng của GAS thêm 600,000 – 700,000 tấn LPG/ngày và 40,000 – 45,000 tấn Condensate/ngày trong giai đoạn cuối năm 2017. Ngoài ra, GAS đang tiến hành lập kế hoạch và triển khai hàng loạt các dự án mới như: LPG Dinh Cố, Nam Côn Sơn 2 – Giai đoạn, Sao Vàng/Đại Nguyệt, Cá Rồng … Dự kiến các dự án này sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động trong năm 2018 -2020.

Bên cạnh đó, GAS cũng sẽ tham gia các dự án bổ trợ cho Lọc hóa dầu Long Sơn vào thời điểm 2021. Đây cũng sẽ là thời điểm GAS hoàn thành việc nhập khẩu 1 triệu tấn khí LNG nhằm phục vụ cho 2 nhà máy nhiệt điện mới là Nhơn Trạch 3 và 4.

Liên quan đến giá dầu, việc cắt giảm sản lượng của các nước OPEC và Nga  được gia hạn thêm 9 tháng sẽ hỗ trợ và làm giảm rủi ro giảm sâu của giá dầu. Do đó, cho cả năm 2017, mặc dù sản lượng kinh doanh khí khô có thể giảm 2-3% do tình hình thời tiết thuận lợi khiến giảm sản lượng của các nhà máy nhiệt điện khí, nhưng chúng tôi vẫn dự báo hoạt động kinh doanh chính của GAS kỳ vọng có được sự tăng trưởng và biên LN gộp tốt hơn so với năm 2016.

Năm 2017, chúng tôi đánh giá KQKD của GAS sẽ cải thiện tích cực hơn trong bối cảnh giá dầu đang từng bước hồi phục khá vững chắc. Ước tính doanh thu 2017 của PVGas sẽ tăng nhẹ 3%, đạt 60,790 tỷ đồng trong khi LNST công ty mẹ giảm 9.5% đạt 6,348 tỷ đồng do không còn ghi nhận doanh thu hồi tố như năm 2016. EPS 2017 dự phóng trong khoảng 3,500 – 4,000 đồng/cp, tương ứng với mức P/E forward là 13 – 15.2x. Giai đoạn 2018 – 2020 sẽ chứng kiến nhiều dự án đi vào hoạt động, đây được đánh giá là thời điểm các triển vọng về dài hạn sẽ dần dần lộ diện cho doanh nghiệp.

2. PLX: Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam

Tình hình kết quả kinh doanh

Danh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ hàng năm đều chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng doanh thu và thu nhập khác của Tập đoàn (98.95% năm 2016). Trong đó, doanh thu từ kinh doanh xăng dầu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu thuần. Gần đây tỷ trọng doanh thu từ kinh doanh xăng dầu có xu hướng giảm nhẹ (từ 89% năm 2014 xuống 86% năm 2016), trong đó doanh thu kinh doanh xăng dầu từ khối xăng dầu đã giảm mạnh.

Nguyên nhân:

  • Giá xăng dầu thế giới giảm mạnh năm 2015 và chạm đáy vào tháng 2/2016;
  • Tác động