Kinh tế vĩ mô 2017

Năm 2017, kinh tế Việt Nam đã cán đích ngoạn mục. Hầu hết các chỉ tiêu đề ra đều đã hoàn thành. Tăng trưởng GDP năm 2017 đạt 6,81%, vượt kế hoạch đề ra. Năm 2018, Chính phủ đưa ra mục tiêu tăng trưởng 6,7%.

ĐIỂM NHẤN NĂM 2017

Tăng trưởng GDP năm 2017 đạt 6,81%. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,9%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8%, khu vực dịch vụ tăng 7,44%.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2017 tăng 3,53% so với năm trước, dưới mục tiêu 4%.

Thị trường tài chính, chứng khoán, hoạt động ngân hàng diễn biến tích cực. Tín dụng của nền kinh tế tăng 16,96%. Mặt bằng lãi suất ổn định.

Bội chi ngân sách nhà nước ước khoảng 115,5 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 3,5% GDP.

Vốn đầu tư nước ngoài ước đạt gần 36 tỷ USD, tăng 44,4% so với năm trước, cao nhất từ năm 2009 đến nay.

Lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu vượt 400 tỷ USD. Cả năm 2017 xuất siêu 2,7 tỷ USD.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phục hồi. Sản lượng thủy sản ước đạt 7,2 triệu tấn, tăng trưởng 5,2%.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp năm 2017 tăng 9,4%. Trong đó, quý I tăng 4%; quý II tăng 8,2%; quý III tăng 9,7%; quý IV ước tính tăng 14,4%

Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng trưởng 10,9% so với năm trước.

Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới cao nhất từ trước đến nay.

MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NĂM 2018 LÀ 6,7%

Ngày đầu tiên của năm mới 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Nghị quyết 01 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2018. Trong đó, Chính phủ đề ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế là 6,7% và một số chỉ tiêu đáng chú ý như sau:

Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững.

Điều hành các chính sách vĩ mô đồng bộ, linh hoạt và kịp thời; tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng, điều chỉnh chính sách giá cả linh hoạt, bình ổn, phù hợp với diễn biến của lạm phát; kiểm soát CPI bình quân dưới 4%.

Mở rộng tín dụng đi đôi với kiểm soát chặt chẽ, gắn chặt với quá trình cơ cấu lại và xử lý nhanh nợ xấu; tiếp tục phấn đấu giảm lãi suất cho vay; phấn đấu tốc độ tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế khoảng 18%; kiểm soát chặt chẽ tín dụng với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Giữ mức bội chi ngân sách nhà nước ở mức dưới 3,7% GDP; tăng thu ngân sách khoảng 3% so với dự toán Quốc hội giao; giảm tỷ lệ nợ đọng thuế xuống dưới 5% tổng thu ngân sách nhà nước. Phấn đấu đến cuối năm 2018, dư nợ công khoảng 64% GDP, nợ Chính phủ khoảng 52,5% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 47,6% GDP.

Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về đầu tư, thu hút mạnh doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Phấn đấu đạt tỷ lệ tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 34% GDP.

Phấn đấu đạt tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 8% đến 10%so với năm 2017, kiểm soát nhập siêu dưới 3% so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại với các thị trường có giá trị nhập siêu cao.

Tập trung phát triển toàn diện, mạnh mẽ sản xuất kinh doanh ở tất cả các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Phát triển nông nghiệp đi đôi với phát triển công nghiệp chế biến sâu, chế biến tinh, trọng tâm vào các ngành nông nghiệp sạch, nông nghiệp hiệu quả cao gắn với ứng dụng công nghệ cao.

Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP trong khu vực I (nông, lâm nghiệp, thủy sản) đạt khoảng 3% so với năm 2017, kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt trên 36-37 tỷ USD.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, trọng tâm là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; công nghiệp phục vụ nông nghiệp; công nghiệp hỗ trợ gắn với liên kết chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia.

Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP trong khu vực II (công nghiệp và xây dựng) đạt trên 7,7% so với năm 2017, trong đó công nghiệp là khoảng 7,3%, xây dựng là khoảng 9,2%.

Tập trung phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ thông tin, truyền thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, logistics, du lịch…;

Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP trong khu vực III (dịch vụ) đạt 7,4% so với năm 2017, đạt khoảng 15 triệu lượt khách du lịch quốc tế, tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng khoảng 10%.

TĂNG TRƯỞNG GDP 2017 ĐẠT 6,81%, VƯỢT MỤC TIÊU ĐỀ RA

Tăng trưởng GDP năm 2017 đạt 6,81%, cao hơn nhiều so với từ năm 2011 trở lại đây.

Quy mô GDP ước đạt trên 5 triệu tỷ đồng (~224 tỷ USD); GDP BQ đầu người ước đạt 2.385 USD.

 Khu vực nông , lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 2,9%, gấp 2 lần mức tăng năm 2016.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 8% nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Khu vực tăng trưởng tốt từ đầu năm, cả năm khoảng 7,44%.

Tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2017 ước tính sơ bộ đạt 6,81%, vượt mức kế hoạch đề ra và cao hơn nhiều so với các năm từ năm 2011 trở lại đây. Điểm sáng là cả 3 khu vực kinh tế lớn đều có sự tăng trưởng và đóng góp vào mức tăng trưởng chung, trong đó:

– Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực do thiên tai, bão, nhưng vẫn tăng khoảng 2,9%, gấp hơn 2 lần mức tăng của năm 2016 (1,36%), đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng chung, nhờ sản xuất rau, quả xuất khẩu khả quan và thủy sản tăng trưởng ổn định (5,54%).

– Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 8%, cao hơn mức tăng năm 2016 (7,57%), đóng góp 2,77 điểm phần trăm nhờ động lực từ công nghiệp chế biến, chế tạo tăng vượt bậc, đã bù đắp sự sụt giảm của ngành khai khoáng; ngành xây dựng tăng trưởng khá, đạt mức 8,7%, đóng góp 0,54 điểm phần trăm.

– Khu vực dịch vụ tăng trưởng tốt từ đầu năm, tính chung cả năm tăng khoảng 7,44% (năm 2016 tăng 6,98%), đóng góp 2,87 điểm phần trăm. Trong đó các ngành chiếm tỷ trọng lớn đều tăng trưởng ấn tượng, nhất là: bán buôn, bán lẻ (8,36%); dịch vụ lưu trú, ăn uống (8,98%); hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm (8,14%).

Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực, trong đó:

– Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,34%, giảm so với năm 2016 (16,32%);

– Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,34%, tăng so với năm 2016 (32,7%);

– Khu vực dịch vụ chiếm 41,32%, tăng so với năm 2016 (40,92%).

CPI NĂM 2017 TĂNG 3,53%, HOÀN THÀNH MỤC TIÊU DƯỚI 4%

CPI bình quân năm 2017 tăng 3,53% so với năm trước, hoàn thành mục tiêu đề ra.

Lạm phát cơ bản bình quân năm 2017 tăng 1,41% so với năm 2016.

Giá dịch vụ y tế, giáo dục là yếu tố chính làm tăng CPI.

Giảm giá ở nhóm thực phẩm góp phần kiềm chế CPI.

Chỉ số giá vàng bình quân năm 2017 tăng 3,71% so với năm 2016.

Chỉ số đô la Mỹ bình quân năm 2017 tăng 1,4% so với năm 2016

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2017 tăng 0,21% so với tháng trước và tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2016. CPI bình quân năm 2017 tăng 3,53% so với bình quân năm 2016, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2017 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2017 tăng 1,41% so với năm 2016.

CPI năm 2017 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

– Các địa phương điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ khám chữa bệnh.

– Thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP.

– Tăng lương tối thiếu vùng cho người lao động.

– Ngoài ra còn một số yếu tố về thị trường, nhu cầu du lịch tăng, một số địa phương bị ảnh hưởng thiên tai, thời tiết bất lợi.

Một số yếu tố kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2017:

– Chỉ số giá nhóm thực phẩm bình quân năm giảm 2,6% so với năm 2016 (chủ yếu giảm ở nhóm thịt tươi sống).

– Triển khai các biện pháp bình ổn giá cả thị trường trong dịp Tết Nguyên Đán.

– Chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Chỉ số giá vàng tháng 12/2017 giảm 0,12% so với tháng trước; tăng 4,74% so với cùng kỳ năm 2016; bình quân năm 2017 tăng 3,71% so với năm 2016.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2017 tăng 0,02% so với tháng trước và giảm 0,05% so với cùng kỳ năm 2016; bình quân năm 2017 tăng 1,40% so với năm 2016.

THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – CHỨNG KHOÁN, HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG DIỄN BIẾN TÍCH CỰC

Tín dụng tăng trưởng 16,96% so với năm trước. Chất lượng tín dụng được cải thiện, thanh khoản đảm bảo.

Mặt bằng lãi suất ổn định, lãi suất cho vay giảm.

Thị trường chứng khoán khởi sắc nhờ tăng trưởng kinh tế tích cực. Cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước diễn ra sôi động.

Thị trường bảo hiểm tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí toàn thị trường tăng 21,2%.     

Tín dụng đối với nền kinh tế tăng 16,96% so với cuối năm 2016 (năm 2016 tăng 16,46%), chất lượng tín dụng được cải thiện, thanh khoản và an toàn hệ thống được đảm bảo.  Tính đến ngày 20/12/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,19% so với cuối năm 2016 (năm 2016 tăng 16,47%); tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tăng 14,5% so với cuối năm 2016 (năm 2016 tăng 16,88%).

Mặt bằng lãi suất ổn định, lãi suất cho vay giảm, nhất là các lĩnh vực ưu tiên. Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6%-6,5%/năm đối với ngắn hạn, 9%-10%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3%-11%/năm đối với trung và dài hạn.

Thị trường chứng khoán khởi sắc nhờ kinh tế tăng trưởng tích cực, sự cam kết và hành động mạnh mẽ của Chính phủ trong việc tháo gỡ các rào cản đầu tư, hỗ trợ kinh tế tư nhân. Bên cạnh đó, việc thoái vốn Nhà nước và việc niêm yết các cổ phiếu vốn hóa lớn tạo tác động tâm lý tích cực thu hút đầu tư, bao gồm cả đầu tư gián tiếp nước ngoài.

Chỉ số VN-Index vượt mốc 960 điểm; mức vốn hóa thị trường đạt gần 75% GDP, tăng 72,6% so với cuối năm 2016. Thị trường chứng khoán phái sinh sau 4 tháng đi vào hoạt động đã có sự tăng trưởng về cả khối lượng hợp đồng, giá trị giao dịch và số lượng tài khoản.

Thị trường trái phiếu có bước phát triển mạnh, hiện có 612 mã trái phiếu niêm yết, giá trị đạt trên 1 triệu tỷ đồng, tăng 8%.

Thị trường bảo hiểm năm 2017 duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước tính đạt 105,6 nghìn tỷ đồng, tăng 21,2% so với năm trước. Năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục được nâng cao, đóng góp vào nền kinh tế ngày càng tốt hơn.

BỘI CHI NGÂN SÁCH HƠN 115 NGHÌN TỶ ĐỒNG, BẰNG KHOẢNG 3,5% GDP

Thu NSNN ước đạt 1.104 nghìn tỷ đồng, bằng 91,1% dự toán.

Chi NSNN ước đạt 1.219,5 nghìn tỷ đồng, bằng 87,7% dự toán.

Bội chi ngân sách nhà nước là 115,5 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 3,5% GDP.

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2017 ước tính đạt 1.104 nghìn tỷ đồng, bằng 91,1% dự toán năm, trong đó:

– Thu nội địa đạt 871,1 nghìn tỷ đồng, bằng 88%;

– Thu từ dầu thô đạt 43,5 nghìn tỷ đồng, bằng 113,7%;

– Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 183,8 nghìn tỷ đồng, bằng 102,1%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2017 ước đạt 1.219,5 nghìn tỷ đồng, bằng 87,7% dự toán năm, trong đó:

– Chi thường xuyên đạt 862,6 nghìn tỷ đồng, bằng 96,2%;

– Chi đầu tư phát triển đạt 259,5 nghìn tỷ đồng, bằng 72,6% dự toán năm.

– Chi trả nợ lãi 91nghìn tỷ đồng, bằng 92%;

– Chi trả nợ gốc ước tính đạt 147,6 nghìn tỷ đồng, bằng 90,1% dự toán năm.

Ước cả năm, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước vượt 2,3% dự toán năm, tăng 10,1% so với năm 2016. Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước vượt 1,7% dự toán, tăng 9,3% so với năm 2016. Bội chi ngân sách nhà nước là 115,5 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 3,5% so với GDP.

VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI NĂM 2017 ƯỚC ĐẠT 36 TỶ USD, CAO NHẤT TỪ NĂM 2009

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đạt 35,9 tỷ USD, tăng 44,4% so với năm trước.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn thu hút vốn FDI nhiều nhất với 14,1 tỷ USD, chiếm 47,6%.

Nhật Bản là nước đầu tư nhiều vốn FDI nhất với 7.745,8 triệu USD, chiếm 36,4%.               

Tính đến ngày 20/11/2017, tổng vốn đầu tư có yếu tố nước ngoài (bao gồm vốn FDI) đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần đạt khoảng 35,9 tỷ USD, tăng 44,4% so với năm 2016; trong đó:

– Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ước đạt 29,7 tỷ USD, tăng 44,2%. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt 21,3 tỷ USD, tăng 3,5%; vốn tăng thêm đạt 8,4 tỷ USD, tăng 49,2%.

– Vốn góp, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 6,2 tỷ USD, tăng 45,1%.

Giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khoảng 17,5 tỷ USD, tăng 10,8% so với năm 2016.

Lĩnh vực đầu tư chủ yếu:

Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm nay đạt 14,1 tỷ USD, chiếm 47,6% tổng vốn đăng ký; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 8,4 tỷ USD, chiếm 28,2%; các ngành còn lại đạt 7,2 tỷ USD, chiếm 24,2%.

Đối tác đầu tư chủ yếu:

Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 7.745,8 triệu USD, chiếm 36,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc với 3.973,3 triệu USD, chiếm 18,7%; Singapore với 3.771,8 triệu USD, chiếm 17,7%; Trung Quốc với 1.409,7 triệu USD, chiếm 6,6%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) góp 740,4 triệu USD, chiếm 3,5%; Hoa Kỳ góp 637,7 triệu USD, chiếm 3%.

LẦN ĐẦU TIÊN KIM NGẠCH XUẤT KHẨU VƯỢT 400 TỶ, NĂM 2017 XUẤT SIÊU 2,7 TỶ USD

Kim ngạch xuất khẩu năm 2017 ước đạt 213,77 tỷ USD, tăng trưởng 21,1%.

Kim ngạch xuất khẩu tăng cao do tăng sản lượng và sự phục hồi giá cả của một số hàng hóa.

Xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp nặng tăng mạnh nhất 32,4%, chiếm 49,6% tổng kim ngạch.

Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu dẫn đầu với 41,5 tỷ USD, tăng 8% so với năm 2016.

Kim ngạch nhập khẩu năm 2017 ước đạt 211,1 tỷ USD, tăng 20,8% so với năm 2016.

Nhu cầu nhập khẩu máy móc và nguyên liệu đầu vào phục vụ các tập đoàn lớn khiến nhập khẩu tăng cao.

Nhóm hàng cần nhập khẩu đạt 188,4 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 89,1% và tăng trưởng 21,9%.

Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 58,5 tỷ USD.

Năm 2017 cả nước xuất siêu khoảng 2,7 tỷ USD, chiếm 1,25% kim ngạch xuất khẩu.

Nhập siêu từ Trung Quốc, ASEAN  giảm. Nhập siêu từ Hàn Quốc tăng mạnh do nhu cầu nhập khẩu của Tập đoàn Samsung.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 12/2017 đạt 19,3 tỷ USD, giảm 3,5% so với tháng trước; tính chung cả năm ước đạt 213,77 tỷ USD, tăng 21,1% so với năm 2016. Trong đó:

– Xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài kể cả dầu thô (chiếm tỷ trọng hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu) tăng 23%.

– Xuất khẩu của khu vực trong nước tăng 16,2%, có sự phục hồi mạnh mẽ so với năm 2015 và 2016, chủ yếu do sự đóng góp của nhóm hàng nông sản, thủy sản.

Nguyên nhân chủ yếu đạt được mức tăng trưởng cao do:

– Tăng trưởng vượt bậc về lượng các loại hàng hóa xuất khẩu, nếu loại trừ yếu tố giá, tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2017 tăng 17,6% so với năm 2016.

– Giá cả hàng hóa xuất khẩu cũng có sự phục hồi, tăng trở lại, đặc biệt đối với mặt hàng hạt điều (tăng 21,3% so với năm 2016), cà phê (tăng 20,5%), dầu thô (tăng 22,6%), cao su (tăng 20%).

– Nhóm hàng công nghiệp chế biến (chiếm tỷ trọng 81,1% tổng kim ngạch xuất khẩu) với nhiều mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn đạt tốc độ tăng trưởng khá cao (tăng 22,4%).

Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu:

Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 106 tỷ USD, tăng 32,4% so với năm trước và chiếm 49,6% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 4,2 điểm phần trăm so với năm 2016); nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 79,6 tỷ USD, tăng 11,7% và chiếm 37,2% (giảm 3,1 điểm phần trăm); nhóm hàng nông, lâm sản đạt 19,8 tỷ USD, tăng 9% và chiếm 9,3% (giảm 1 điểm phần trăm); hàng thủy sản ước tính đạt 8,4 tỷ USD, tăng 18,5% và chiếm 3,9% (giảm 0,1 điểm phần trăm).

Thị trường hàng hóa xuất khẩu:

Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu với 41,5 tỷ USD, tăng 8% so với năm 2016. Tiếp đến là EU đạt 38,3 tỷ USD, tăng 12,8%; Trung Quốc đạt 35,3 tỷ USD, tăng 60,6%; thị trường ASEAN đạt 21,7 tỷ USD, tăng 24,5%; Nhật Bản đạt 16,8 tỷ USD, tăng 14,2%; Hàn Quốc đạt 15 tỷ USD, tăng 31,1%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 12/2017 ước đạt 19,8 tỷ USD, tăng 2,1% so với tháng trước; tính chung cả năm ước đạt 211,1 tỷ USD, tăng 20,8% so với năm 2016.

Tăng trưởng nhập khẩu ở mức cao so với những năm gần đây chủ yếu là do:

–  Nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị cho các dự án sản xuất tăng như dự án của Tập đoàn Samsung, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Viettel;

– Nhu cầu các mặt hàng là nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất, xuất khẩu tăng như điện thoại và linh kiện, máy vi tính, điện tử và linh kiện.

– Giá hàng hóa nhập khẩu cũng tăng, như giá xăng dầu tăng 25,4%, sắt thép tăng 13,7%,…

Cơ cấu nhập khẩu vẫn theo xu hướng tích cực, nhằm mục tiêu phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Cụ thể:

– Nhóm hàng cần nhập khẩu đạt 188,4 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 89,1% và tăng trưởng 21,9%;

– Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu ước đạt khoảng 12,4 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 5,9%, tăng trưởng 8,9%.

Thị trường hàng hóa nhập khẩu: Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta với kim ngạch đạt 58,5 tỷ USD, tăng 16,9% so với năm 2016; tiếp đến là Hàn Quốc đạt 46,8 tỷ USD, tăng 45,5%; ASEAN đạt 28 tỷ USD, tăng 16,4%; Nhật Bản đạt 16,5 tỷ USD, tăng 9,7%; EU đạt 12 tỷ USD, tăng 7,7%; Hoa Kỳ đạt 9,1 tỷ USD, tăng 4,9%.

Cân đối xuất nhập khẩu tích cực, năm 2017, cả nước ước tính xuất siêu khoảng 2,7 tỷ USD, chiếm gần 1,25% tổng kim ngạch xuất khẩu, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra.

Về thị trường nhập siêu, nhập siêu từ Trung Quốc giảm khoảng 17,4% so với năm 2016; nhập siêu từ ASEAN giảm khoảng 6%. Nhập siêu từ Thái Lan khoảng 5,64 tỷ USD, tăng 9,5% (năm 2016 tăng 1,3%). Nhập siêu từ Hàn Quốc tăng mạnh (53,4%) chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và linh kiện phục vụ gia công lắp ráp của Tập đoàn Samsung. Tại các thị trường truyền thống như Mỹ, Châu Âu tiếp tục có xuất siêu.

SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN PHỤC HỒI

Sản xuất nông nghiệp gặp khó do thời tiết bất lợi.

Chăn nuôi trâu bò ổn định. Chăn nuôi lợn giảm do giá thịt ở mức thấp.

Sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng khá, diện tích rừng bị cháy và chặt phá giảm.

Sản lượng thủy sản ước đạt 7,2 triệu tấn, tăng 5,2% so với năm trước.

Sản xuất nông nghiệp trong năm 2017 gặp nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng của thời tiết biến đổi bất thường, bão lũ, mưa lớn. Sản xuất lúa cả năm giảm cả về diện tích, năng suất và sản lượng so với năm 2016.

Chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định, nuôi gia cầm đạt khá. Riêng chăn nuôi lợn gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ chưa có nhiều chuyển biến, giá thịt lợn ở mức thấp, quy mô đàn giảm. Sản lượng thịt hơi các loại năm nay đạt khá, tăng khoảng 3,1% so với năm 2016, trong đó: sản lượng thịt trâu tăng 1,5%; thịt bò tăng 4,2%; thịt lợn tăng 1,9%; thịt gia cầm tăng 7,3%. Tính đến thời điểm 25/12/2017 cả nước không còn dịch bệnh trên gia súc, gia cầm.

Sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng khá do mưa nhiều, thuận lợi cho hoạt động trồng, chăm sóc rừng và khai thác lâm sản. Tính chung cả năm, diện tích rừng trồng tập trung trên địa bàn cả nước ước đạt 241,3 nghìn ha, tăng 1,2% so với năm 2016. Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng được quan tâm thực hiện, nhất là thực hiện nghiêm chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, nhờ đó diện tích rừng bị thiệt hại ước giảm 55,9%, trong đó: diện tích rừng bị cháy giảm 80% nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi; diện tích rừng bị chặt phá giảm 2,9%.

Sản lượng thủy sản cả năm ước đạt 7,2 triệu tấn, tăng 5,2% so với năm 2016. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng 5,2% nhờ không còn bị tác động của hạn hán, xâm nhập mặn như năm 2016 và thị trường tiêu thụ thuận lợi. Sản lượng khai thác thủy sản ước tăng 5,1% nhờ thực hiện tốt công tác dự báo ngư trường và sự phát triển của dịch vụ hậu cần nghề cá, tạo động lực cho ngư dân ra khơi bám biển, đẩy mạnh khai thác xa bờ, nhất là trong bối cảnh thuận lợi về khí tượng thủy văn.

CHỈ SỐ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP NĂM 2017 TĂNG 9,4%

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 9,4% so với năm 2016 (quý I tăng 4%; quý II tăng 8,2%; quý III tăng 9,7%; quý IV ước tính tăng 14,4%), 

Ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng có mức tăng ấn tượng 14,5%

Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng cao nhất với 32,7%.

Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 9,3%. 

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 12/2017 ước tính tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2017, chỉ số IIP tăng 9,4% so với năm 2016 (quý I tăng 4%; quý II tăng 8,2%; quý III tăng 9,7%; quý IV ước tính tăng 14,4%), cao hơn nhiều so với mức tăng 7,4% của năm 2016. Trong đó:

– Ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 14,5% (mức tăng trưởng cao nhất trong 6 năm trở lại đây), đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung toàn ngành công nghiệp với 10,2 điểm phần trăm;

– Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm;

– Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm;

– Ngành khai khoáng giảm sâu 7,1%, làm giảm 1,5 điểm phần trăm mức tăng chung.

Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng cao so với năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 32,7% (tập trung ở sản xuất điện thoại di động thông minh giá trị cao và linh kiện điện tử xuất khẩu toàn cầu), đặc biệt tăng mạnh trong quý IV với mức tăng 55,6% (quý I tăng 5,9%, quý II tăng 20,5%, quý III tăng 47%); sản xuất kim loại tăng 17,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 14,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,5%; dệt, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy cùng tăng 10,2%.

Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 0,2%; khai thác than cứng và than non bằng năm trước; sản xuất thuốc lá giảm 0,1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 9,3%.

BÁN LẺ HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ TIÊU DÙNG TĂNG TRƯỞNG 10,9%

Tổng bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng  năm 2017 ước đạt 3.934,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9%.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2017 ước tính đạt 2.937,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,7% tổng mức và tăng 10,9%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2017 ước tính đạt 494,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,6% tổng mức và tăng 11,9% .

Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 35,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 10,4%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2017 ước tính đạt 352,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 12% so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung cả năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 3.934,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so năm trước (Năm 2016 tăng 10,1%)

Xét theo ngành hoạt động:

– Doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2017 ước tính đạt 2.937,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,7% tổng mức và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu bán lẻ ô tô tăng 14%; đá quý, kim loại quý tăng 13,2%; hàng gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,8%; lương thực, thực phẩm tăng 11,1%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 10,2%; may mặc tăng 9,6%; phương tiện đi lại tăng 8,6%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 8,5%.

– Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2017 ước tính đạt 494,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,6% tổng mức và tăng 11,9% so với năm 2016. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng khá do lượng khách quốc tế và du lịch trong nước năm nay tăng mạnh, đồng thời không còn bị ảnh hưởng của sự cố môi trường biển tại các tỉnh miền Trung năm 2016.

– Doanh thu du lịch lữ hành năm nay ước tính đạt 35,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 10,4% so với năm trước. Nhu cầu du lịch trong và ngoài nước cùng với lượng khách quốc tế đến nước ta tăng mạnh đã góp phần tăng thu cho hoạt động du lịch lữ hành.

– Doanh thu dịch vụ khác năm 2017 ước tính đạt 466,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% tổng mức và tăng 9,7% so với năm 2016.

NĂM 2017, MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH ĐƯỢC CẢI THIỆN

Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam tăng 5 bậc so với năm 2016 (từ vị trí 60/138 lên vị trí 55/137 nền kinh tế).

Môi trường kinh doanh đạt thứ hạng 68/190, tăng 14 bậc so với năm ngoái.

Đổi mới sáng tạo cải thiện 12 bậc, đạt thứ hạng 47/127.

Năm 2017 có gần 127 nghìn DN đăng ký thành lập (+15,2%) với 1.296 nghìn tỷ đồng vốn (+45,4%)

Chỉ số PMI tháng 12/2017 đạt 52,7 điểm, tăng so với mức 51,4 điểm của tháng 11 và cao nhất trong 3 tháng qua.            

Đánh giá môi trường kinh doanh tăng hạng.

Qua bốn năm triển khai Nghị quyết 19, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của nước ta năm 2017 được các tổ chức quốc tế ghi nhận cải thiện nhiều nhất. Ba bộ chỉ số đặt mục tiêu đều tăng điểm và tăng hạng.

– Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam tăng 5 bậc so với năm 2016 (từ vị trí 60/138 lên vị trí 55/137 nền kinh tế). Kết quả này đạt được bởi 5/12 chỉ số trụ cột tăng điểm, 6/12 chỉ số trụ cột tăng bậc (với 32/114 chỉ số thành phần vừa tăng điểm và tăng bậc, 24/114 chỉ số thành phần tăng hạng nhưng điểm số không đổi hoặc tăng điểm nhưng thứ hạng không đổi). Đa số trụ cột về hiệu quả thị trường (như thị trường tài chính, lao động, công nghệ và quy mô thị trường) đã có sự cải thiện.

– Môi trường kinh doanh đạt thứ hạng 68/190, tăng 14 bậc so với năm ngoái. Đây là mức tăng bậc nhiều nhất trong thập niên qua. Nếu tính hai năm liêp tiếp thì môi trường kinh doanh của nước ta tăng 23 bậc. Kết quả tích cực này đạt được bởi 8/10 chỉ số tăng điểm (không có chỉ số nào giảm điểm), 6/10 chỉ số tăng bậc. Trong đó, Nộp thuế (tăng 61 bậc) và Tiếp cận điện năng (tăng 32 bậc) là 2 chỉ số đóng góp đáng kể nhất vào cải thiện môi trường kinh doanh.

– Đổi mới sáng tạo cải thiện 12 bậc, đạt thứ hạng 47/127. Đây cũng là thứ hạng cao nhất mà Việt Nam đã đạt được từ trước cho đến nay. Trong ASEAN, Việt Nam vươn lên và đứng trên Thái Lan (vị trí 51). Sự cải thiện này chủ yếu đạt được nhờ việc cập nhật kịp thời dữ liệu cho Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới.

Số lượng doanh nghiệp thành lập mới cao nhất từ trước đến nay.

Trong tháng 12/2017, cả nước có 10.814 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 164,1 nghìn tỷ đồng. Tính chung cả năm 2017, cả nước có 126.859 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.295,9 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% về số doanh nghiệp và tăng 45,4% về số vốn đăng ký so với năm 2016;

Bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới, năm 2017 cũng có 26.448 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 0,9% so với năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm đạt 153,3 nghìn doanh nghiệp.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong năm 2017 là 60.553 doanh nghiệp, giảm 0,2% so với năm trước. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong năm 2017 là 12.113 doanh nghiệp, giảm 2,9% so với năm trước.

Sản lượng tăng trở lại, PMI Việt Nam tháng 12 lên cao nhất 3 tháng

Theo báo cáo của Nikkei, chỉ số nhà quản trị mua hàng Purchasing Managers’Index (PMI) toàn phần lĩnh vực sản xuất của Việt Nam – chỉ số tổng hợp đo lường kết quả hoạt động của ngành sản xuất – đạt 52,5 điểm trong tháng 12, tăng so với mức 51,4 điểm của tháng 11. Đây cũng là mức PMI cao nhất trong 3 tháng qua.

Kết quả này báo hiệu sự cải thiện mạnh mẽ sức khỏe lĩnh vực sản xuất vào cuối năm 2017. Các điều kiện kinh doanh cải thiện hơn trong suốt 25 tháng qua. Về tổng thể, 2017 là năm có kết quả tích cực của lĩnh vực sản xuất khi kết quả PMI trung bình là cao nhất kể từ khi khảo sát bắt đầu vào năm 2011.

KINH TẾ THẾ GIỚI

Kinh tế thế giới năm 2017 tăng trưởng khoảng 3,6%, cao nhất từ năm 2010.

Thương mại, đầu tư toàn cầu khởi sắc, tài chính-tiền tệ tương đối ổn định.

Tăng trưởng kinh tế thế giới

Xét tổng thể, kinh tế toàn cầu năm 2017 tương đối ổn định và tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2010 với tốc độ khoảng 3,6%.

Tăng trưởng tích cực diễn ra tương đối đồng đều ở hầu hết các nền kinh tế thuộc cả nhóm nước phát triển và các nền kinh tế đang nổi. Châu Á tiếp tục là động lực chính của KTTG, đóng góp tới 62% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu (riêng Trung Quốc đóng góp khoảng 34%).

Kinh tế Mỹ tăng trưởng 2,2%, thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong 17 năm qua đã tạo cơ sở cho ba lần tăng lãi suất trong năm 2017.

Trung Quốc tăng trưởng cao hơn dự báo với tốc độ 6,8% nhờ xuất khẩu cải thiện, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng và ổn định tài chính.

Khu vực đồng Euro tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua với 2,4% nhờ hiệu ứng nới lỏng tiền tệ và nỗ lực tái cơ cấu kinh tế-tài chính.

Nhật Bản duy trì giai đoạn tăng trưởng kéo dài từ tháng 12/2012 đến nay nhờ tăng tiêu dùng và xuất khẩu.

Nga, Bra-xin lấy lại tăng trưởng dương sau vài năm trì trệ;

Ấn Độ tuy tăng trưởng chậm lại song vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng gần 7%;

ASEAN tăng trưởng bình quân khoảng 5%.

Thương mại toàn cầu tăng cao nhất kể từ năm 2011 với tốc độ tăng ước tính 4,6%; riêng 9 tháng đầu năm 2017 xuất khẩu hàng hóa của các nền kinh tế đang nổi tăng 5%, các nước phát triển tăng 3,8%. Nguyên nhân chủ yếu do:

– Phục hồi giá hàng hoá xuất khẩu, nhất là giá hàng hoá cơ bản. Giá dầu phục hồi khá tích cực, đến cuối năm 2017 dao động ở mức 55-60 USD/thùng;

– Thương mại hàng điện tử tăng mạnh, nhất là Châu Á;

– Nhập khẩu của các nước phát triển tăng do cải thiện đầu tư, tiêu dùng và sức mua.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu ước tăng 5% và đạt 1.800 tỷ USD trong năm 2017 (năm 2016 chỉ tăng 2%). FDI vào các nước phát triển tăng mạnh, chiếm 59% tổng dòng FDI toàn cầu; trong khi FDI vào các nước đang phát triển giảm 14%. 

Tài chính-tiền tệ toàn cầu tuy vẫn còn nhiều rủi ro, song cơ bản ổn định, không có biến động lớn như vài năm trước đây. Các nước dễ tổn thương bởi khủng hoảng nợ (một số nước EU, Ác-hen-ti-na, Bra-xin…) từng bước phục hồi. Tỷ giá giữa các đồng tiền chủ chốt ít biến động; đồng USD giảm giá phản ánh niềm tin vào thị trường tài chính toàn cầu đang cải thiện; đồng Euro và đồng tiền của các nền kinh tế đang nổi đều phục hồi.

Thông tin chi tiết mời Quý khách xem Tại đây

Đầu tư Phái Sinh tổng hợp

 

Bình luận

Bình luận