Kinh tế vĩ mô tháng 2/2018

Tình hình kinh tế – xã hội tháng 02 và 02 tháng đầu năm nhìn chung ổn định. Tình hình sản xuất kinh doanh các khu vực diễn biến tích cực, trong đó công nghiệp và dịch vụ tiếp tục là điểm sáng, nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo và du lịch.

Kinh Tế Trong Nước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2 tăng 0,73% so với tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2018 tăng 1,24% so với tháng 12/2017, tăng 3,15% so với cùng kỳ năm 2017 (cùng kỳ tăng 5,02%) và tăng 0,73% so với tháng trước, phù hợp với quy luật tháng Tết hằng năm.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 2 tháng đầu năm 2018 tăng 2,9% so với bình quân cùng kỳ năm 2017. Trong đó:

  • Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với 1,53% (lương thực tăng 1,44%; thực phẩm tăng 1,71%), chủ yếu do tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán tăng lên và nhu cầu gạo cho các hợp đồng xuất khẩu.
  • Nhóm giao thông tăng 0,79% do giá xăng dầu bị ảnh hưởng của đợt tăng giá trong tháng trước nên bình quân tháng Hai tăng 1,15% (tác động làm CPI chung tăng 0,05%) và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 3,34%.
  • Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,75%, trong đó giá rượu, bia tăng 1,1%; thuốc hút tăng 0,51%; đồ uống không cồn tăng 0,41%.
  • Riêng nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,09%; bưu chính viễn thông giảm 0,07%.

Lạm phát cơ bản tháng 2/2018 tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 2 tháng đầu năm nay tăng 1,32% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá vàng tháng 2/2018 tăng 1,83% so với tháng trước; tăng 3,55% so với tháng 12/2017 và tăng 6,05% so với cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 2/2018 giảm 0,01% so với tháng trước; giảm 0,05% so với tháng 12/2017 và tăng 0,04% so với cùng kỳ năm 2017.

Thị trường Tài chính – Tiền tệ hoạt động tích cực

Tổng phương tiện thanh toán tính đến ngày 21/02/2018 tăng 3,6% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ tăng 1,87%); tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tăng 0,8% (cùng kỳ tăng 1,03%); tín dụng đối với nền kinh tế tăng 1,69% (cùng kỳ tăng 1,23%).

Mặt bằng lãi suất ổn định, lãi suất huy động bằng VND phổ biến giữ ở mức 0,8-7,3% các kỳ hạn; lãi suất cho vay bằng VND phổ biến giữ ở mức 6-11%; đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay ngắn hạn từ 4-5%/năm; lãi suất huy động bằng USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân, tổ chức và cho vay ở mức 2,8-6%/năm.

Thị trường ngoại tệ diễn biến tích cực, thanh khoản thị trường tốt, đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của khách hàng trong dịp Tết Nguyên đán.

Thị trường vàng tương đối ổn định, giá vàng bình quân cả nước quanh mức từ 36,8 đến hơn 36,9 triệu đồng/lượng, cao hơn mức giá vàng quốc tế quy đổi (chưa tính phí). Riêng ngày 25/02/2018 biến động tăng do nhu cầu mua vàng cầu may đầu năm của nhân dân, tuy nhiên chủ yếu là giao dịch nhỏ, lẻ, đến nay đã ổn định trở lại.

Thị trường chứng khoán trong tháng do tác động từ tình hình thị trường chứng khoán thế giới giảm mạnh và tâm lý chốt lời trước Tết của các nhà đầu tư, đã có những những phiên giảm điểm khá mạnh, nhất là trong ngày 05 và 06/02/2018, tuy nhiên thanh khoản trong các phiên này lại tăng, khối lượng và giá trị giao dịch bình quân phiên tăng 33% và 45% so với bình quân phiên trong tháng 1/2018.

So với cuối năm 2017, nhìn chung tình hình thị trường chứng khoán vẫn có sự tăng trưởng mạnh. Chỉ số VN Index sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán đã phục hồi về mức trên 1.100 điểm, tăng nhẹ so với thời điểm đầu tháng.

Giá trị vốn hóa thị trường (không bao gồm thị trường trái phiếu) giữ ở mức hơn 77% so với GDP năm 2017. Quy mô giao dịch bình quân phiên lũy kế đến 21/02/2018 ước đạt 19.915 tỷ đồng/phiên, tăng 41% so với bình quân năm 2017, trong đó, giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài ước mua ròng trên 12,8 nghìn tỷ đồng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ và gần 859 tỷ đồng trái phiếu.

Thị trường chứng khoán phái sinh, lũy kế đến ngày 21/02/2018, đã có hơn 677 nghìn hợp đồng với tổng giá trị giao dịch theo quy mô danh nghĩa ước đạt 71.237 tỷ đồng, bình quân/ngày có hơn 21 nghìn hợp đồng giao dịch, giá trị giao dịch đạt trên 2,2 nghìn tỷ đồng. Về số lượng tài khoản nhà đầu tư, đến nay đã có trên 20 nghìn tài khoản giao dịch được mở, tăng 18% so thời điểm cuối năm 2017 và sẽ còn tăng mạnh hơn trong thời gian tới.

Sản xuất nông nghiệp chậm hơn so với năm trước, ngành thuỷ sản thuận lợi

Ngành trồng trọt: Tính đến trung tuần tháng 02, cả nước gieo cấy được 2.616,2 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,2% cùng kỳ năm 2017. Thu hoạch lúa đông xuân sớm vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 323,8 nghìn ha, bằng 77,1% cùng kỳ năm 2017 (giảm 22,9%). Gieo trồng một số loại cây vụ đông nhìn chung chậm hơn cùng kỳ năm 2017: diện tích cây màu lương thực như ngô giảm 14,3%, khoai lang giảm 5%; diện tích cây công nghiệp ngắn ngày như đậu tương giảm 44,8%; riêng lạc tăng 5,5%; rau, đậu tăng 4,7%.

Ngành chăn nuôi: Tính chung cả nước, tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung tương đối ổn định, riêng chăn nuôi lợn quy mô đàn tiếp tục giảm do giá thịt lợn hơi trong tháng tăng nhẹ nhưng vẫn chưa đảm bảo có lãi.

Ngành lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng tập trung của cả nước trong tháng ước đạt 3,9 nghìn ha, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2017; tính chung 02 tháng đầu năm ước đạt 6,8 nghìn ha, tăng 3,2%. Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng là 32,7 ha, tính chung 02 tháng đầu năm có khoảng có 60,5 ha rừng bị thiệt hại, giảm 49,5% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: diện tích rừng bị cháy giảm 75,2%; diện tích rừng bị chặt phá giảm 14,5%.

Ngành thủy sản: Nhiều địa phương khu vực miền Trung và Tây Nam Bộ đã trúng mẻ cá lớn trong những chuyến ra khơi đầu năm. Tổng sản lượng thủy sản trong tháng ước đạt 523 nghìn tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2017, tính chung 02 tháng đầu năm ước đạt 1.048,7 nghìn tấn, tăng 3,2%, trong đó: sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 550,6 nghìn tấn, tăng 4,7%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 498,1 nghìn tấn, tăng 1,5%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 17,1% so với tháng trước 

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 02/2018 ước giảm 17,1% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ năm 2017 (cùng kỳ tăng 11%), tính chung 02 tháng đầu năm ước tăng 15,2%, cao hơn nhiều so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 2,4%), trong đó:

  • Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao nhất đạt 17,7% (cùng kỳ tăng 5,3%);
  • Sản xuất và phân phối điện tăng 11,2% (cùng kỳ tăng 8,6%);
  • Khai khoáng tăng 5,7% (cùng kỳ giảm 13,7%);
  • Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,3% (cùng kỳ tăng 4,6%). 

Tình hình sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong 02 tháng đầu năm như sau:

– Ngành dầu khí: Sản lượng khai thác dầu thô ước đạt 2,48 triệu tấn, đạt 18,7% kế hoạch năm, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm 2017, gồm: khai thác dầu thô trong nước khoảng 2,16 triệu tấn, bằng 19,1% kế hoạch năm, giảm 4,9%; khai thác dầu thô ở nước ngoài khoảng 0,32 triệu tấn, bằng 16,7%, giảm 1,2%. Sản lượng khí đạt khoảng 1,77 triệu tấn, bằng 18,4%, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2017.

– Ngành than: Sản lượng than đá (than sạch) ước đạt 6,5 triệu tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2017, sản lượng than tiêu thụ theo báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản ước đạt 5,91 triệu tấn, tăng 15%; tồn kho than sạch khoảng 8,2 triệu tấn, giảm 9,9% so với tháng trước.

– Ngành điện: sản lượng điện sản xuất và mua ước đạt 29,5 tỷ KWh, bằng 13,9% kế hoạch năm, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó điện sản xuất của Tập đoàn Điện lực Việt Nam khoảng 13,5 tỷ KWh, bằng 12,8% kế hoạch năm, tăng 10,7%; sản lượng điện thương phẩm ước đạt gần 28 tỷ KWh, tăng 11,4%.

– Ngành công nghiệp chế biến chế tạo: Phần lớn các sản phẩm công nghiệp chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm 2017, trong đó cao nhất là ti vi tăng  73,9%; sắt thép thô tăng 40,5%; sữa bột tăng 23,7%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 21,2%; … Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Thuốc lá điếu tăng 2,9%; bột ngọt tăng 1,7%; giày, dép da tăng 1,4%; thức ăn cho gia súc giảm 1,1%; dầu gội đầu, dầu xả giảm 2%; dầu thô khai thác giảm 4,9%; phân u rê giảm 7,9%.

Hoạt động bán lẻ và kinh doanh dịch vụ diễn ra sôi động 

Thị trường hàng hóa và dịch vụ trong tháng diễn biến sôi động, sức mua tăng mạnh, nguồn cung đáp ứng tốt nhu cầu sắm Tết của nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng ước đạt 350,4 nghìn tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2017; tính chung 02 tháng đầu năm ước đạt 704 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1%, nếu loại trừ yếu tố giá còn tăng 8,7% (cùng kỳ tăng 5,1%), trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 532 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,6% tổng mức và tăng 10%.  Các dịch vụ ăn uống, du lịch và các dịch vụ khác đều tăng trưởng khá.

Ngành du lịch tiếp tục đón nhận những tín hiệu tích cực, nhiều hoạt động lễ hội, du xuân diễn ra khắp cả nước nhân dịp Tết Nguyên đán đã tạo ra lực hút lớn đối với khách du lịch trong nước và quốc tế, trong tháng, khách quốc tế đạt trên 1,4 triệu lượt, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2017, tính chung 02 tháng đầu năm ước đạt 2,86 triệu lượt người, tăng 29,7%; trong đó khách đến từ khách đến từ tất cả các thị trường chính đều tăng.

Hoạt động vận tải trong tháng nhìn chung ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân trong dịp Tết. Trong tháng, vận tải hàng hóa ước đạt 129,4 triệu tấn, giảm 1% so với tháng trước và 23,8 tỷ tấn.km, giảm 2,3%; vận tải hành khác ước đạt 376,5 triệu lượt khách, tăng 2% và 16,8 tỷ lượt khách.km, tăng 4,2%. Tính chung 02 tháng đầu năm, vận tải hàng hóa ước đạt 260 triệu tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2017 và 48,2 tỷ tấn.km, tăng 5,3%; vận tải hành khách ước đạt 745,8 triệu lượt khách, tăng 9,9% và 32,9 tỷ lượt hành khách.km, tăng 10,9%.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giảm 35,7% so với tháng trước

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng ước đạt 25,9 tỷ USD, giảm khoảng 35,7% so với tháng trước do hầu hết các doanh nghiệp tập trung thực hiện các đơn hàng xuất khẩu trong tháng 01 và nửa đầu tháng 02, trước khi nghỉ Tết Nguyên đán.

Tính chung 02 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 66,16 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó:

  • Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 2 tháng ước đạt 33,62 tỷ USD, tăng 22,9% so với cùng kỳ năm 2017 (cùng kỳ tăng 15,4%), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,66 tỷ USD, tăng 25,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 23,96 tỷ USD, tăng 21,8%.

Nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu: nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 27,8 tỷ USD, chiếm 82,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 26,1% so với cùng kỳ năm 2017; nhóm hàng nông, lâm thủy sản ước đạt 3,8 tỷ USD, chiếm 11,3% và tăng 15,9%; nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản ước đạt 632 triệu USD, chiếm 1,9% và giảm 7%.

Thị trường xuất khẩu chủ lực: Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 6,2 tỷ USD, tăng 64,8% so với cùng kỳ năm 2017; xuất khẩu vào thị trường Mỹ ước đạt 6 tỷ USD, tăng 14%; xuất khẩu vào EU ước đạt 5,8 tỷ USD, tăng 15%; xuất khẩu vào ASEAN ước đạt 3,5 tỷ USD, tăng 11,2%; xuất khẩu vào Nhật Bản ước đạt 2,6 tỷ USD, tăng 11,1% và Hàn Quốc ước đạt 2,6 tỷ USD, tăng 36,4%.

  • Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 2 tháng ước đạt 32,54 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm 2017 (cùng kỳ tăng 22,5%), trong đó: khu vực kinh tế trong nước đạt 13,34 tỷ USD, tăng 16,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 19,2 tỷ USD, tăng 14,5%.

Nhóm hàng nhập khẩu: nhóm hàng cần nhập khẩu chiếm tỷ trọng 89,1% và tăng 15,6%; nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu ước chiếm tỷ trọng 5,9%, tăng 7%. Cơ cấu nhập khẩu vẫn theo xu hướng tích cực, nhằm mục tiêu phục vụ sản xuất và xuất khẩu.

Thị trường nhập khẩu chủ yếu là Trung Quốc với kim ngạch ước đạt 9,4 tỷ USD, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm 2017; nhập khẩu từ Mỹ ước đạt 1,4 tỷ USD, giảm 5,5%; nhập khẩu từ EU ước đạt 1,8 tỷ USD, tăng 5,7%; nhập khẩu từ ASEAN ước đạt 4,4 tỷ USD, tăng 13,2%; nhập khẩu từ Nhật Bản ước đạt 2,5 tỷ USD, tăng 5,7% và Hàn Quốc ước đạt 7 tỷ USD, tăng 18,7%.

  • Cân đối xuất nhập khẩu 02 tháng đầu năm xuất siêu khoảng 1,08 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3,68 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,76 tỷ USD.

Các thị trường xuất siêu chủ yếu là Mỹ (xuất siêu 4,6 tỷ USD) và EU (xuất siêu 4 tỷ USD); nhập siêu chủ yếu từ Hàn Quốc (nhập siêu 4,4 tỷ USD), Trung Quốc (nhập siêu 3,2 tỷ USD) và ASEAN (nhập siêu 0,9 tỷ USD).

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài tháng 2 ước 2 tỷ USD, giảm 25%

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm từ đầu năm đến thời điểm 20/2/2018  đạt 2.091,5 triệu USD, giảm 25% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó:

  • 411 dự án cấp phép mới (+31,3%) với số vốn đăng ký đạt 1.391,2 triệu USD (-31,4%) so với cùng kỳ năm 2017.
  • 133 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 700,3 triệu USD, giảm 7,8% so với cùng kỳ năm trước

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 2 tháng ước tính đạt 1,7 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong 2 tháng năm 2018 còn có 873 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 1.253,4 triệu USD, tăng 102,5% so với cùng kỳ năm 2017. 

Lĩnh vực đầu tư: Trong 2 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 817,4 triệu USD, chiếm 58,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 253,8 triệu USD, chiếm 18,2%; các ngành còn lại đạt 320 triệu USD, chiếm 23%.

Đối tác đầu tư: Trong số 36 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 2 tháng năm nay, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 353,5 triệu USD, chiếm 25,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 243,6 triệu USD, chiếm 17,5%; Nhật Bản 139 triệu USD, chiếm 10%; Hà Lan 136,6 triệu USD, chiếm 9,8%; Hoa Kỳ 88,1 triệu USD, chiếm 6,3%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 84,8 triệu USD, chiếm 6,1%; Na-uy 70,1 triệu USD, chiếm 5%.

Ngân sách thặng dư 35 nghìn tỷ đồng trong 2 tháng đầu năm

Thu ngân sách Nhà nước tính đến hết tháng 02/2018, ước đạt 212.765 tỷ đồng, bằng khoảng 16,1% dự toán năm, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó:

  • Thu nội địa ước đạt 179.392 tỷ đồng, bằng khoảng 16,3% dự toán năm;
  • Thu từ dầu thô ước đạt 9.108 tỷ đồng, bằng khoảng 25,4% dự toán năm;
  • Thu cân đối từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 24.175 tỷ đồng, bằng khoảng 13,5% dự toán năm.

Chi ngân sách nhà nước ước đạt 177.675 tỷ đồng, bằng khoảng 11,7% dự toán năm, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó:

  • Chi đầu tư phát triển ước đạt 7.487 tỷ đồng, bằng khoảng 1,9% dự toán năm;
  • Chi thường xuyên (không bao gồm chi cải cách tiền lương, tinh giản biên chế) ước đạt 147.783 tỷ đồng, bằng khoảng 15,7% dự toán năm;
  • Chi trả nợ lãi ước đạt 21.990 tỷ đồng, bằng khoảng 19,5% dự toán năm.

Cả nước có 18,703 doanh nghiệp thành lập mới trong 2 tháng, tăng 29,4%

Trong tháng có 7.864 doanh nghiệp được thành lập mới với số vốn đăng ký đạt trên 99 nghìn tỷ đồng, tăng 44,0% về số doanh nghiệp và tăng 59,1% về số vốn so với cùng kỳ năm 2017, tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong tháng đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 10,5%.

Tính chung 02 tháng đầu năm, cả nước có 18.703 doanh nghiệp được thành lập mới với số vốn đăng ký đạt trên 197 nghìn tỷ đồng, tăng 29,4% về số doanh nghiệp và tăng 29,3% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017.

Theo ngành nghề kinh doanh chính, trong 2 tháng đầu năm 2018 có 6,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ (chiếm 34,5% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), tăng 31,9% so với cùng kỳ năm trước; 2,4 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 12,9%), tăng 25%; 2,3 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,2%), tăng 16%; ….

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 2 tháng đầu năm nay là 17.132 doanh nghiệp, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 11.191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 29% và 5.941 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 23,1%.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 2 tháng đầu năm 2018 là 2.529 doanh nghiệp, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 2.320 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,7%.

Kinh Tế Thế Giới

Kinh tế toàn cầu duy trì mức tăng trưởng ổn định trong tháng 02/2018.

Ngân hàng Thế giới nhận định năm 2018 có thể là năm kinh tế thế giới đạt mức sản lượng tiềm năng, trong đó nhu cầu phục hồi và năng lực sản xuất được phát huy tối ưu. Mặc dù vậy, các chuyên gia cũng cảnh báo những dấu hiệu rủi ro, bao gồm:

– Tăng trưởng với dấu hiệu nóng và thiếu kiểm soát của một số thị trường tài chính thế giới;

– Tỷ lệ nợ trên toàn cầu vẫn tiếp tục tăng với tốc độ nhanh, de dọa sự phát triển bền vững của các nền kinh tế mới nổi;

– Tự do hóa thương mại sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, nhất là trong bối cảnh nhiều nước tăng cường các hàng rào phi thuế quan nhằm bảo vệ thị trường trong nước;

– Tiền kỹ thuật số tiềm ẩn nhiều ro cho hệ thống tài chính;

– Tác động tiêu cực từ bất ổn địa chính trị, cạnh tranh ảnh hưởng và lợi ích giữa các nước lớn.

Về lãi suất, cuối tháng 01/2018, FED quyết định giữ nguyên mức lãi suất 1,5%, tuy nhiên tiếp tục phát tín hiệu sẽ có 3 đợt điều chỉnh lãi suất theo hướng tăng trong năm 2018 (dự kiến đợt tăng đầu tiên sẽ vào tháng 3).

Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) dự kiến tăng lãi suất lên mức 0,75% vào tháng 5 và mức 1% cuối năm 2018. Trong khi đó, Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ) đang cân nhắc phương án mua trái phiếu nước ngoài trong thời gian tới như một phướng án thúc đẩy nền kinh tế phục hồi.

Về giá cả, trong tháng 01/2018, giá năng lượng tăng 9,19% so với tháng trước và tăng 23,6% so với cùng kỳ năm 2017. Tương tự giá kim loại thế giới tăng 5,3% trong tháng 1/2018 so với tháng trước và tăng 18,81% so với cùng kỳ năm trước.

Giá dầu thế giới biến động liên tục trong tháng 2/2018 do sản lượng của một số nước sản xuất và xuất khẩu dầu chủ yếu của thế giới tăng, tình hình chính trị bất ổn tại Trung Đông và biển động của đồng USD. Giá dầu thô trung bình trong tháng 2/2018 vào khoảng 64 USD/thùng. Giá dầu thế giới được dự báo tiếp tục tăng mạnh trong năm 2018 do tình hình chính trị bất ổn vẫn tiếp tục gia tăng tại Trung Đông.

Về đầu tư, dự luật cải cách thuế của Mỹ được thông qua vào tháng 12/2017 dự báo sẽ có nhiều tác động tới dòng vốn FDI toàn cầu. Theo UNCTAD (02/2018), dự luật thuế mới của Mỹ sẽ tác động tới khoảng 50% lượng vốn FDI toàn cầu, làm dịch chuyển 2 nghìn tỉ USD tiền mặt của các công ty Mỹ ở nước ngoài quay trở lại nước Mỹ, từ đó dẫn tới sự sụt giảm mạnh của lượng vốn FDI toàn cầu. Trong dài hạn, mô hình đầu tư toàn cầu cũng có thể bị ảnh hưởng theo hướng tăng cạnh tranh về thuế.

Về thương mại và hội nhập kinh tế thế giới, ghi nhận nhiều diễn biến tích cực tuy nhiên vẫn còn tiềm ẩn một số rủi ro xu hướng bảo hộ thương mại và sự bế tắc của một số đàm phán cấp độ khu vực. Anh đã công bố dự thảo kế hoạch cho giai đoạn chuyển tiếp hậu Brexit vào ngày 21/2 . Mỹ vẫn tiếp tục xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, cụ thể ngày 16/2/2018, Bộ Thương mại Mỹ đã trình đề xuất áp mức thuế hoặc hạn ngạch đối với sản phẩm nhôm, thép nhập khẩu với lý do các sản phẩm nhập khẩu này “đe dọa an ninh quốc gia Mỹ”. Tổng thống Mỹ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng trước cuối tháng 4/2018. Trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, văn bản cuối cùng của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vừa được 11 quốc gia còn lại của TPP công bố, chuẩn bị cho ngày ký chính thức vào ngày 08/3/2018.

Một số nền kinh tế lớn

Kinh tế Mỹ tiếp tục những dấu hiệu tăng trưởng tích cực. Chỉ số PMI tổng hợp (Flash PMI) của Mỹ tháng 2/2018 tăng lên 55,9 điểm (53,8 trong tháng 1) và trở thành mức cao nhất trong 27 tháng. Tuy nhiên, số liệu ước tính mới nhất cho thấy kinh tế Mỹ quý IV/2017 tăng chậm hơn so với dự kiến, đạt 2,6% (so với cùng thời điểm 2016). Tính chung cả năm 2017, kinh tế Mỹ tăng trưởng 2,3%.

Khu vực Châu Âu tiếp tục triển vọng khả quan. Hoạt động kinh doanh khu vực Eurozone tiếp tục tăng với tốc độ nhanh vào tháng 2, áp lực về giá và tăng trưởng việc làm vẫn duy trì ở mức cao. Chỉ số PMI tổng hợp của khu vực Eurozone giảm từ 58,8 điểm tháng 01/2018 xuống mức 57,5 điểm ở tháng 02. Trong khi đó, tăng trưởng GDP trong quý IV/2017 của cả hai khu vực Eurozone và EU28 đều đạt 0,6%; tăng 2,7% và 2,6% so với cùng kỳ năm 2016. Khu vực Eurozone sẽ tiếp tục đà tăng trưởng mạnh mẽ nhờ đà tăng trưởng mạnh mẽ về xuất khẩu và nhu cầu nội địa và các điều kiện tài chính thuận lợi, chính sách ổn định, rủi ro chính trị giảm tại khu vực này.

Kinh tế Nhật Bản tăng trưởng khả quan do cầu quốc tế tăng mạnh, đặc biệt từ Trung Quốc và Châu Âu, xuất khẩu trong tháng 01/2018 tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước, tăng mạnh so với mức tăng 9,3% của tháng 12, chủ yếu là tăng từ nhóm hàng máy móc và thiết bị điện, hóa chất và thiết bị vận tải. Xuất khẩu tăng nhưng lần đầu tiên kể từ tháng 5 năm 2017 cán cân thương mại của Nhật bị thâm hụt (943 tỷ Yên trong tháng 01/2018) mặc dầu vậy mức thâm hụt thấp hơn so cùng kỳ năm 2017. Kinh tế Nhật Bản sẽ tăng trưởng khá nhờ sự hồi phục mạnh mẽ của nền kinh tế về sản xuất công nghiệp và tiêu dùng. Tuy nhiên, lực lượng lao động suy giảm và lạm phát yếu sẽ là yếu tố cản trở cho triển vọng của Nhật Bản.

Kinh tế Trung Quốc duy trì đà tăng trường khá nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro cao về nợ. Hoạt động xuất nhập khẩu của Trung Quốc trong tháng 01/2018 vẫn tiếp tục tăng ở mức 11,1% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức dự báo 10,7%. Kinh tế Trung Quốc cũng có thể tăng trưởng cao hơn so với mức dự báo trước đó do triển vọng chung của kinh tế toàn cầu tăng, trong khi đó nước này vẫn sẽ tiếp tục cải cách mở cửa và nới lỏng thị trường.

Thông tin chi tiết xin mời Quý khách xem Tại đây.

Đầu tư Phái Sinh tổng hợp

Bình luận

Bình luận